Aug 24, 2012

• Cách phân biệt hàng Trung Cộng - MADE in CHINA (P.R.C.)





Hiện nay phong trào cổ động tẩy chay hàng hoá Trung cộng đang diễn ra trên khắp thế giới. Phong trào nầy được phát động bỡi hai cơ sở thực tiễn khách quan sau :

:arrow: 1.Dùng hàng hoá xuất phát từ Trung cộng mang nhiều bệnh tật cho người tiêu thụ

:arrow: 2.Dùng hàng hoá xuất phát từ Trung cộng càng làm tăng ngân sách cho quốc gia nầy, từ đó đầu tư ngân sách cho quốc phòng càng lớn để chiếm ưu thế so với các nước trong khu vực, càng phát triển mưu đồ tham tàn và có điều kiện thực hiện các tham vọng nầy trong thế kỷ 21 như những chiếm lấn vừa qua trên biển Đông của họ đối với Philippine , Việt Nam và các nước Đông Nam Á khác .


Trong mail gởi cho TQH, các nhà khoa học lưu ý rằng: khách hàng có thể biết được xuất xứ của các sản phẩm nhờ những số đầu tiên của mã vạch và sản phẩm sản xuất tại Trung cộng có mã số bắt đầu bằng 690 đến 695. Các công dân có quyền được biết. Nhưng chính phủ và ngành liên quan ở các nước không quan tâm, không bao giờ thông báo hoặc giáo dục công chúng. Đồng thời cảnh báo:Hiện nay, các doanh nhân Trung cộng biết rằng người tiêu dùng sẽ không lựa chọn sản phẩm sản xuất tại Trung cộng. Vì vậy, họ cố gắng không làm hiển thị tên của quốc gia sản xuất trên các sản phẩm.

Do vậy bài viết này được viết ra nhằm:”Kính nhờ phổ biến rộng rãi cho tất cả người Việt trong và ngoài nước” và giới thiệu với bạn đọc phần chính của thông tin nầy .


Làm sao phân biệt được hàng made in China?

Mỗi khi mua hàng hoá xin quý vị coi hàng mua xuất phát từ đâu bằng cách xem “Mã Số Vạch” (Country Code) bắt đầu bằng các Mã số sau đây là LÀM TẠI TRUNG CỘNG :

690……......., 691….........., 692…........, 693…........, 694….........., 695….........

Làm sao phân biệt được hàng “Made in China” ?

Cách trình bày ngoài hộp những sản phẩm Made in China rất mập mờ, thí dụ Hộp Green tea dưới đây:

Packed by
The royal Pacific Tea Company Inc.
Po.Box 6277.Scottdale.Arizona 85261-6277
email : royalpacific (a) syspac.com


Nhưng xem lại Mã số vạch vẫn bắt đầu từ số 6...cho tới 695………………………….

Hộp, bao gói ngoài trình bày khá sang trọng , ra vẻ Hoàng Gia (Royal) nhưng hãy coi chừng !
Làm thế nào để phân biệt những sản phẩm được sản xuất tại Mỹ, hoặc ở Philippines, Đài Loan … với sản phẩm được sản xuất tại ở Trung cộng ? Dưới đây là cách để biết nguồn gốc cuả các sản phẩm:
Có 3 chữ số đầu tiên của mã vạch xác định mã quốc gia trong đó sản phẩm được thực hiện.

Ví dụ: 
tất cả các mã vạch bắt đầu bằng 690, 691, 692, 694, 695 là tất cả các LÀM TẠI TRUNG CỘNG

Một thí-dụ :
Hãy nhìn kỹ mã-số “gạch đít” dưới đây :


471 is Made in Taiwan .
Mã vạch bắt đầu bằng 471 được in trên các sản phẩm xuất xứ Đài Loan.
Khách hàng có thể biết được xuất xứ của các sản phẩm nhờ những số đầu tiên của mã vạch và sản phẩm sản xuất tại Trung cộng có mã số bắt đầu bằng 690 đến 695 .
Các công dân có quyền được biết. Nhưng chính phủ và ngành liên quan ở các nước không quan tâm , không bao giờ thông báo hoặc giáo dục công chúng. Hiện nay, các doanh nhân Ba Tàu biết rằng người tiêu dùng sẽ không lựa chọn sản phẩm sản xuất tại TC. Vì vậy, chúng cố gắng giấu tên của quốc gia sản xuất trên các sản phẩm của chúng !

Tuy nhiên, bạn có thể biết được xuất xứ của các sản phẩm nhờ những số đầu tiên của mã vạch. Sản phẩm sản xuất tại Trung cộng có mã số bắt đầu bằng 690 đến 695


MỘT SỐ MÃ VẠCH:
00 ~ 13 USA & CANADA
30 ~ 37 FRANCE
40 ~ 44 CHLB Đức
49 ~ NHẬT BẢN
50 ~ Vương quốc Anh
57 ~ Đan Mạch
64 ~ Phần Lan
76 ~ Thụy Sĩ và Liechtenstein
628 ~ Ả-Rập Saudi
629 ~ United Arab Emirates
740 ~ 745 – Trung Mỹ
480 _ Philippine

Xin vui lòng thông báo cho gia đình và bạn bè của bạn.
HÃY CẨN TRỌNG KHI MUA THỰC PHẨM, ĐỂ TRÁNH MUA PHẢI HÀNG TÀU

LƯU Ý LÀ HÀNG TRUNG CỘNG CÓ SỐ MÃ VẠCH BẮT ĐẦU BẰNG CÁC SỐ:

690……………., 691……………., 692……………., 693……………., 694……………., 695…………….


Để tránh bệnh tật cho bạn và gia đình bạn, bạn hãy ghi những số mã vạch trên vào túi sách đi chợ của bạn để khỏi quên.

ĐỌC TIẾP:
:arrow: Tẩy chay hàng Trung Cộng trên toàn nước Mỹ trong 31 ngày
:arrow: Người Việt nguy cơ tuyệt chủng vì thức ăn trộn hóa chất TC
:arrow: Chiến Tranh Chống Trung Cộng: KINH TẾ


Aug 23, 2012


“bầu kiên”, một “bố già đỏ”, của việt cộng?
by Wednesday, 22 August 2012 10:19 - Nguyễn Thu Trâm

Image
Nguyễn Đức Kiên. Ảnh: Ngọc Quân



Kính thưa quý vị,

Những ngày qua, dư luận trong và ngoài nước trở nên nóng hơn trước thông tin “Bầu Kiên”, một “doanh nhân thành đạt, một trong 100 người giàu nhất Việt Nam”, một tài phiệt đỏ vừa bị cơ quan cảnh sát điều tra của CSVN bắt giữ.

Thông tin về vụ việc bắt giữ “Bầu Kiên” được đăng tải đầy dẫy trên các trang báo cả lề phải, lề trái cũng như cả trên một số báo chí nước ngoài. Công chúng đón nhận thông tin trên với nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau: Tất nhiên, chẵng mấy ai thù ghét gì “ông trùm” chỉ vì cái giàu có của ông ấy, bởi xét cho cùng, giàu nghèo đâu phải là tội, người ta chỉ vui mừng vì ít nhất cũng thấy được những dấu chỉ cho thấy cái ngày mà Việt Nam trở nên giống như các nước XHCN ở Đông Âu vào cuối thập niên 1980S và đầu thập niên 1990S sẽ không còn quá xa vời nữa.




Biệt thự của bầu Kiên nằm trên phố Xuân Diệu, phường Quảng An, quận Tây Hồ, Hà Nội

Riêng tôi, khi đọc được những thông tin về “Bầu Kiên” tôi không thể nào kìm nén được “phức cảm” của mình và tôi càng đọc thêm thông tin, càng phải khóc nức nỡ bởi những cảnh đau thương của dân tộc Việt Nam, của đồng bào miền Nam sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 cứ lần lượt hiện về trong tâm thức của tôi như một thiên thời sự về những thương đau tang tóc của dân tộc Việt.

Xin được trở lại với những tháng ngày tăm tối của nông dân Bắc Việt vào thời kỳ cải cách ruộng đất 1953-1956, là chương trình nhằm xóa bỏ văn hóa phong kiến, tiêu diệt các thành phần bị xem là "bóc lột", "phản quốc" (theo Pháp, chống lại đất nước), "phản động" (chống lại chính quyền) như địa chủ, Việt gian, cường hào, các đảng đối lập... được Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thực hiện vào những năm1953–1956. Cải cách ruộng đất tịch thu tài sản, đất đai của những người này và chia cho bần nông, cố nông; đồng thời tiến hành đấu tố và xử tội họ. Đây là một trong những phương cách chính yếu mà Hồ Chí Minh và những người theo chủ nghĩa cộng sản nghĩ rằng phải thực hiện để lập lại công bằng xã hội, đồng thời thiết lập nền chuyên chính vô sản nhằm tiến lên chủ nghĩa xã hội một cách nhanh chóng. Như trong bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (Manifesto), Karl Marx đã tuyên bố: "cách mạng ruộng đất là điều kiện để giải phóng dân tộc". Đó chính là cơ sở lý luận để Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt nam tiến hành cuộc cải cách ruộng đất này, mà theo đó, tất cả các gia đình trong xã được họ phân loại thành 5 thành phần: (a) địa chủ; (b) phú nông; (c) trung nông cứng - sở hữu 1 con bò, 1 con lợn, 1 đàn gà; (d) trung nông vừa - sở hữu 1 con lợn, 1 đàn gà; (e) trung nông yếu - sở hữu 1 đàn gà hay không có gì cả; (f) bần nông; (g) cố nông.

Một gia đình nông dân có 2 con lợn đã có thể gọi là phú nông, sẳn sàng bắt giam để đưa ra đấu tố. Một gia đình nông dân sở hữu 3 sào Bắc Bộ đã có thể gọi là địa chủ, sẳn sàng bắt giam, đưa ra đấu tố và hành quyết ngay trước tòa án nhân dân.

Tỷ lệ địa chủ được quy định trước là 5,68% dân số nông thôn, và các đoàn và đội cải cách đều cố truy bức để đôn tỷ lệ địa chủ lên 5% như một quy định bắt buộc, gọi là "kích thành phần". Có nghĩa là, theo luật cải cách ruộng đất mà Hồ Chí Minh đã phê thuận thì ở mỗi làng, mỗi xã phải có 5,68% dân số phải bị đưa ra đấu tố, bị đưa đi cải tạo, hoặc bị hành quyết tại chổ và để hoàn thành được chỉ tiêu này của đội cải cách, hàng chục ngàn nông dân ở miền Bắc đã bị quy thành địa chủ cường hào chỉ vì gia sản của họ gồm 1 bò, 1 heo và 1 đàn gà, mà nếu quy đổi theo giá thị trường hiện nay thì chắc gia sản của họ không thể vượt qua con số 500 Mỹ kim, tức là bằng khoảng một phần triệu tài sản của “Bầu Kiên”.


Ngôi biệt thự diện tích khoảng 500m2, có 3 mặt tiền, tường rào cao 3 mét.

Cũng cần nhắc lại rằng phát súng đầu tiên nổ vào đầu một phụ nữ là bà Nguyễn Thị Năm, tức bà chủ hiệu buôn Cát Thanh Long, mẹ nuôi của Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Giảng, và cũng là một đại ân nhân của Hồ Chí Minh, của chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Chỉ vì bà “Má Năm” là một thương gia giàu có, mà đã là địa chủ, phú nông, đã là giàu có thì không còn là “nhân dân” nữa, mà họ chính là “kẻ thù của nhân dân”, bởi giàu có tức là “bóc lột”, là “hút máu mủ của nhân dân”! Cho dù tài sản của “Má Năm” cũng chưa bằng một phần triệu tài sản của ông “Bầu Kiên” hiện nay!

Và xin một lần nữa, được trở lại với đồng bào miền Nam sau ngày mất nước 30 tháng 4 năm 1975 với những chuổi ngày thảm họa bởi chính sách “cải tạo công thương nghiệp” và chính sách “đánh đổ tư sản”. Về bối cảnh lịch sử, cho đến ngày miền Nam hoàn toàn rơi vào tay cộng quân Bắc Việt, Sài Gòn đã có cả một cơ sở vật chất, kinh tế kỹ thuật lớn nhất miền Nam và khu vực, nơi tập trung hơn 80% năng lực sản xuất công nghiệp cả miền Trung, miền Nam. Ở đây tập trung hơn 38.000 cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp lớn nhỏ, trong đó có 766 công ty và 8.548 cơ sở công nghiệp tư nhân.

Sau đó, để công hữu hóa tư liệu sản xuất và đưa công nhân lao động lên làm chủ nhà máy, xí nghiệp, sau năm 1975 nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã tiến hành vận động hai đợt cải tạo công thương nghiệp. Kết quả là đã quốc hữu hóa tài sản của 171 nhà tư sản mại bản, 59 tư sản công thương nghiệp cỡ lớn, tạo ra 400 xí nghiệp quốc doanh, 14.000 cơ sở tiểu thủ công nghiệp, thu hút 270.000 công nhân và lao động, vận động hồi hương lập nghiệp mà thực chất là xua đuổi bớt thị dân về nông thôn lập nghiệp và đón nhiều đợt di dân đường dài từ miền Bắc XHCN vào miền Nam mà chủ yếu là vào Sài gòn để làm cán bộ nòng cốt trong tất cả các cơ quan hành chánh công quyền cũng như tất cả các công ty, nhà máy xí nghiệp, và từng bước phân bố lại lao động.

Trên thực tế, hầu hết những nhà tư sản lớn của Sài Gòn thời đó phần lớn đã di tản ra nước ngoài, thành phố chỉ còn các doanh nghiệp loại vừa như các chủ nhà in, chủ xưởng thủ công, chủ cửa hàng, cửa hiệu... Các ông chủ này; kể cả những người làm nghề chuyên môn và chỉ là tiểu chủ như chủ hiệu thuốc tây đều bị buộc phải kê khai tài sản, vốn liếng rồi trưng thu, tịch thu, trưng mua và buộc họ không được làm kinh doanh, phải chuyển qua sản xuất nông nghiệp, nhiều người phải rời khỏi thành phố. Nhiều cửa hàng nhỏ, vốn liếng chẳng có bao nhiêu, một số tiệm ăn, tiệm cà phê... cũng bị niêm phong, định giá và chuyển qua sản xuất quốc doanh, hợp tác xã.

Để thực thi, những tổ công tác mật được gấp rút thành lập, bắt đầu rà soát, lên danh sách những hộ gia đình kinh doanh, những gia đình giàu có phải vào diện “cải tạo tư sản”. Nguyên tắc hàng đầu của các chiến dịch này là bí mật, bất ngờ. Những ông chủ, bà chủ chỉ bàng hoàng nhận biết những gì xảy ra khi cửa mở và tổ công tác đặc biệt mà chủ yếu là những cán bộ “nằm vùng” trước đây, bất ngờ có xuất hiện trong nhà, đọc quyết định “kê biên tài sản” của họ.

Những cửa hàng, nhà cửa bị tịch thu trở thành tài sản công và thường sẽ thành một cửa hàng quốc doanh hoặc thậm chí nhà ở cho cán bộ. Tài sản bị niêm phong xong, mọi người trong gia đình đó phải chuẩn bị nhận quyết định đi “xây dựng vùng kinh tế mới”. Hàng triệu người sau một đêm ngủ bỗng trở nên trắng tay, trở nên người vô gia cư, bởi nhà ở, cơ sở kinh doanh, sản xuất của họ bỗng thay ngôi đổi chủ chỉ sau một đêm ngủ. Từ những thương gia, những công chức văn phòng họ bỗng trở thành những nông dân bất đắc dĩ, bởi trong đời chưa một lần biết đến cày bừa, gieo cấy là gì… Và không ít người đã quẫn trí, tự kết liễu cuộc đời bằng nhờ hình thức tự tử khác nhau… Tất cả chỉ vì họ bỗng nhiên bị biến thành kẻ thù của dân tộc, của nhân dân, họ bị biến thành “thành phần bóc lột, chuyên hút máu mủ của nhân dân”. Tất cả xuất phát từ quan niệm đầu tiên của những con người cộng sản cho rằng các ông bà chủ chuyên ăn trắng mặc trơn, chỉ bóc lột nên nay cần phải cho đi cải tạo để họ thành những "con người mới XHCN". Do đó đích đến của họ thường là các vùng kinh tế mới ở chốn rừng thiêng nước độc… Chỉ vì họ là những người giàu có, mà tài sản của họ chắc gì đã bằng được một phần triệu tổng tài sản của “Bầu Kiên” hiện nay.

Như một giọt nước tràn ly… Chính cái chính sách “Bần Cùng Hóa” nhân dân miền Nam, để xóa bỏ hoàn toàn chế độ “Người Bóc Lột Người” này của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã tạo ra cảnh lọan nhân tâm, hệ quả là hàng triệu người Việt phải băng rừng lội suối hoặc phải vượt ngàn trùng sóng gió của Đại Dương, ngay cả trên những con thuyền hết sức mong manh để đi tìm tự do, đi tìm công lý và quyền sống, mà theo thống kê của Tổ Chức Liên Hiệp Quốc thì có tới 1.750.000 người trong số họ đã mất mạng trên đường đi tìm tự do đó. Đau thương quá cho dân tộc Việt vốn đã quá đau thương trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, nhưng có lẽ chưa bao giờ dân tộc Việt lại đau thương như trong giai đoạn lịch sử này, dưới ách thống trị của chế độ cộng sản, bởi đối với những con người cộng sản ngày ấy, nghèo hèn là yêu nước và ngược lại giàu sang phú quý là phản quốc, là kẻ thù của dân tộc!

Bởi vậy mà hiện nay, đa phần người dân Viêt Nam từ Nam chí Bắc đều là những người yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, bởi hầu hết đều nghèo đói đều cơ hàn, cơm không đủ no áo không đủ ấm, bởi tài nguyên quốc gia đều đã bị sang bán cho ngoại bang, tài sản quốc gia lọt thỏm vào tay của khoảng 3 triệu đảng viên cùng 14 “Đầy Tớ Nhân Dân” là những ủy viên bộ chính trị cũng như trong tay của những ông trùm như “Bầu Kiên” vậy.

Trong tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (Das Manifest der Kommunistischen Partei), xuất bản lần đầu ngày 21 tháng 2 năm 1848, được viết bởi các nhà lý thuyết cộng sản Friedrich Engels và Karl Marx, kêu gọi hành động cho một cuộc cách mạng vô sản để lật đổ trật tự xã hội tư sản và cuối cùng sẽ mang lại một xã hội cộng sản chủ nghĩa với10 phương pháp nhằm xóa bỏ chủ nghĩa tư bản và xây dựng chủ nghĩa cộng sản như sau:

1. Tước đoạt sở hữu ruộng đất và trao nộp tô vào quỹ chi tiêu của nhà nước.
2. Áp dụng thuế luỹ tiến cao.
3. Xoá bỏ quyền thừa kế
4. Tịch thu tài sản của tất cả những kẻ lưu vong và của tất cả những kẻ phiến loạn
5. Tập trung tín dụng vào tay nhà nước thông qua một ngân hàng quốc gia với tư bản của nhà nước và ngân hàng này sẽ nắm độc quyền hoàn toàn.
6. Tập trung tất cả các phương tiện vận tải vào trong tay nhà nước.
7. Tăng thêm số công xưởng nhà nước và công cụ sản xuất; khai khẩn đất đai để cấy cầy và cải tạo ruộng đất trong một kế hoạch chung.
8. Thực hành nghĩa vụ lao động đối với tất cả mọi người, tổ chức các đạo quân công nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp.
9. Kết hợp nông nghiệp, thi hành những biện pháp nhằm làm mất dần sự khác biệt thành thị và nông thôn.
10. Giáo dục công cộng và không mất tiền cho tất cả các trẻ em. Xoá bỏ việc sử dụng trẻ em làm trong các khu công xưởng như hiện nay. Kết hợp giáo dục với sản xuất vật chất, ...


Chúng ta hãy thử một lần nhìn lại 10 điều tóm tắt của tuyên ngôn đó để so sánh với hiện thực ở đất nước cộng sản Việt Nam này để thấy rỏ ràng rằng, tuyên ngôn của đảng cộng sản chỉ là một loại bịp bợm, rác rưởi để lừa bịp nhân loại về một “Thiên Đường XHCN” nơi trần thế mà Hồ Chí Minh và những người cộng sản Việt Nam cũng đã áp dụng để lừa đảo cả dân tộc Việt Nam về công cuộc giải phóng đất nước, xây dựng một chế độ XHCN công bằng, văn minh, không có “người bóc lột người”. Bởi thực trạng xã hội Việt Nam ngày nay cho thấy rằng thực chất Hồ Chí Minh và những người cộng sản chỉ dùng chiêu bài đó để lừa bịp toàn dân để lới dụng máu xương của nhân dân cho mục đích tranh giành quyền cai trị đất nước, để được hưởng trọn những đặc quyền đặc lợi của những kẻ thống trị mà thôi, bởi tất cả những gì đã diễn ra, đang diễn ra trên đất nước này, và cả trên thành trì XHCN Bắc Triều Tiên nữa, đều ngược lại hoàn toàn với tất cả những gì đã ghi trong Bản Tuyên Ngôn của đảng cộng sản: Những kẻ nắm quyền cai trị đất nước vẫn đang tìm mọi cách để duy trì chế độ thừa kế nắm quyền. Khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị càng ngày càng lớn, Giáo dục, y tế cũng là đặc quyền đặc lợi của những người giàu có như các ông trùm “Bầu Kiên” và cháu con của họ, còn những gia đình nông dân nghèo làm sao có đủ tiền để cho con cái họ được hưởng lợi từ nền giáo dục quốc gia kho mà mức học phí quá cao so với thu nhập quá thấp của nông dân hay công nhân hiện nay?

Thực ra không ai có thể tính được rằng nếu tập trung tất cả của cải, tài sản của tất cả nông dân ở Đồng Bằng Sông Cửu Long lại liệu đã có giá trị tương đương với khối tài sản của ông “Bầu Kiên” chưa? Và hiện nay ở Hà Nội, ở Việt Nam có bao nhiêu “Bầu Kiên” như vậy? Những người cộng sản đang cai trị đất nước Việt Nam có thể trả lời cho toàn dân Việt những câu hỏi tương tự như thế được không? Thực ra có phải đảng cộng sản Việt nam tiến hành “giải phóng miền Nam, thống tổ quốc” để xây dựng một đất nước Việt Nam dân chủ, tự do, hạnh phúc, một xã hội Việt Nam công bằng, văn minh hay chỉ cốt lợi dụng máu xương của đồng bào để giành đặc quyền đặc lợi cho riêng giai cấp thống trị và các thế hệ cháu con?

Nếu vẫn còn lương tri và có lòng tự trọng, những kẻ đang nắm quyền cai trị đất nước hãy mạnh dạn nói lời xin lỗi với toàn dân Việt Nam về những lừa lọc, bịp bợm cả dân tộc trong suốt non một thế kỷ qua, hãy chân thành nói lời xin lỗi với các cộng đồng người Việt Quốc Gia ở hải ngoại đã vì những chính sách man rợ của cộng sản mà phải rời bỏ tổ quốc của mình để sống đời lưu vong nơi xứ lạ, và cả bộ chính trị, cả 3 triệu đảng viên cộng sản phải lập đàn cúng tế và ăn năn tội với oan hồn của hàng triệu nạn nhân của chế độ cộng sản đã bỏ mình trong cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn để giành quyền thống trị và những đặc quyền, đặc lợi cho những người cộng sản, và hãy cầu xin những oan hồn của hàng triệu đồng bào Việt Nam đã bỏ mình trên biển cả và trong các trại tỵ nạn, trên đường đi tìm tự do, đi lánh nạn cộng sản.

Cuối cùng, xin những người cộng sản đang nắm quyền cai trị đất nước hiểu rằng, đất nước này là của dân tộc Việt Nam, của 90 triệu đồng bào trong nước và hơn 10 triệu đồng bào Việt Nam đang sống lưu vong ở hải ngoại, chứ tuyệt nhiên, đất nước này không phải của riêng đảng cộng sản hay của những tên trùm như “Bầu Kiên” hay “Ba Dũng”… Để đừng tiếp tục đè đầu cưỡi cổ toàn dân Việt nữa, đừng biến cả dân tộc Việt thành những người dân đen, suốt đời chỉ biết còng lưng làm lụng để để mang về “ngàn tỷ”, “ngàn ngàn tỷ” cho những người lưng thẳng như những “Bầu Kiên”, “Ba Dũng”, “Tư Sang”… và các “Bầu” khác trong bộ chính trị trung ương đảng cộng sản. Nếu không, quý vị sẽ ngàn đời đắc tội với hồn thiêng sống núi Việt Nam và đắc tội với cả dân tộc Việt Nam nữa.

Xin đừng để những người con của Đất Việt cứ phải suốt đời khóc nước thương dân.

Bangkok, Thailand ngày 22 tháng 8 năm 2012
Nguyễn Thu Trâm

ĐỌC TIẾP:
:arrow: Nguyễn Tấn Dũng sẵn sàng thí chốt
:arrow: CÁC VỤ THANH TRỪNG NỘI BỘ ĐẪM MÁU CỦA Đ ẢNG CSVN ( Một loạt những cái chết bí ẩn và các trường hợp kết án, trù dập khác. )
:arrow: Bố già Kiên và Trầm Bê đi đêm có ngày gặp ma. HAI BẢN ÁN ĐÃ ĐƯỢC TUYÊN TRONG ĐÊM 21/8/2012 - GIÂY PHÚT TRÙM TƯ BẢN ĐỎ "BẦU KIÊN" BỊ BẮT
:arrow: Tại sao tôi đã phải rơi nước mắt khi đọc những thông tin về “Bầu Kiên”, một “Bố già đỏ” của Việt Cộng?
:arrow: Chân dung Nguyễn Đức Kiên
:arrow: CÁC VỤ THANH TRỪNG NỘI BỘ ĐẪM MÁU CỦA ĐẢNG CSVN ( Cập Nhật )
:arrow: The New York Times - Nỗi lo sợ về một cuộc khủng hoảng kinh tế đang dâng cao ở Việt Nam
:arrow: In Vietnam, Growing Fears of an Economic Meltdown


• Mỹ có kế hoạch lập lá chắn tên lửa tại châu Á


Mỹ có kế hoạch lập lá chắn tên lửa tại châu Á
by Đức Tâm - Thứ năm 23 Tháng Tám 2012


Báo Mỹ The Wall Street Journal, số ra ngày hôm nay, 23/08/2012, cho biết Hoa Kỳ đang có kế hoạch mở rộng hệ thống phòng thủ chống tên lửa ở châu Á, nhằm ngăn chặn mối đe dọa đến từ Bắc Triều Tiên, nhưng đồng thời, cũng nhằm chống lại sức mạnh quân sự của Trung Quốc.

Đây là một phần trong hệ thống phòng thủ, bao phủ một vùng rộng lớn ở châu Á, với việc đặt thêm trạm radar ở phía nam Nhật Bản và có thể ở Đông Nam Á, giúp phát hiện và bắn chặn kịp thời tên lửa của đối phương được phóng đi từ đất liền hoặc từ tàu chiến.

Kế hoạch này nằm trong chiến lược phòng thủ mới của chính quyền Obama, tập trung chú ý tới châu Á-Thái Bình Dương, khu vực có tầm quan trọng đặc biệt đối với nền kinh tế Mỹ.

Việc mở rộng hệ thống phòng thủ diễn ra trong bối cảnh Hoa Kỳ và các đồng minh trong khu vực lo ngại về nguy cơ Bắc Triều Tiên phóng tên lửa tầm xa mang đầu đạn hạt nhân, cũng như thái độ ngày càng hung hăng của Trung Quốc trong các tranh chấp về chủ quyền biển đảo, như tại Biển Đông.

Giới hoạch định chiến lược quân sự Mỹ đặc biệt quan ngại về việc Trung Quốc phát triển tên lửa đạn đạo chống tàu chiến. Loại vũ khí này đe dọa các hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ, phương tiện chủ chốt cho phép mở rộng tầm hoạt động và sức mạnh quân sự.

Ông Steven Heldreth, cố vấn về vũ khí cho Quốc hội Mỹ, nói rõ, kế hoạch phòng thủ mới có mục tiêu trước mắt là Bắc Triều Tiên nhưng về lâu dài là Trung Quốc.

Phương tiện chủ chốt trong kế hoạch phòng thủ này là radar cảnh báo sớm, có tên gọi là X-Band. Một khi radar X-Band phát hiện và xác định được đường đi của tên lửa đối phương, hải quân Mỹ, từ các dàn phóng tên lửa đặt trên tàu hoặc trên đất liền, có thể bắn chặn phá hủy.

Năm 2006, Mỹ đã đặt một trạm X-Band ở Aomori, phía bắc Nhật Bản. Các quan chức quốc phòng Hoa Kỳ nói với The Wall Street Journal là Lầu Năm Góc đang thương lượng với Tokyo và có thể đạt được thỏa thuận trong vài tháng tới, về việc đặt thêm một trạm X-Band trên một hòn đảo ở phía nam Nhật Bản.

Vẫn theo nguồn tin này, Bộ Chỉ huy quân sự Thái Bình Dương và Cơ quan Phòng thủ chống tên lửa của Mỹ đang xem xét các địa điểm, để có thể đặt thêm một trạm radar thứ ba, ở khu vực Đông Nam Á, rất có thể là tại Philippines. Các cuộc thương lượng đang ở giai đoạn khởi đầu.

Ba vị trí đặt radar X-Band, ở phía bắc, phía nam Nhật Bản và tại Philippines, sẽ tạo thành một vòng cung, hướng về phía đông bắc châu Á, cho phép Hoa Kỳ và các đồng minh trong khu vực, phát hiện sớm, chính xác, các tên lửa đạn đạo được phóng đi từ Bắc Triều Tiên, cũng như từ một phần lãnh thổ Trung Quốc.

Bộ Quốc phòng Mỹ nhận định là tương quan sức mạnh quân sự ở eo biển Đài Loan ngày càng mất cân đối, nghiêng về phía Trung Quốc. Hiện nay, Trung Quốc đặt từ 1000 đến 1200 tên lửa đạn đạo tầm ngắn chĩa sang phía Đài Loan. Mặt khác, Bắc Kinh cũng phát triển các loại tên lửa đạn đạo, kể cả hỏa tiễn có thể bắn vào các tàu chiến đang di động, ở tầm xa 930 dặm.

Theo các quan chức cấp cao Mỹ thì hệ thống phòng thủ mới có thể giúp theo dõi và ít nhất là đẩy lùi được một cuộc tấn công có giới hạn, hoặc răn đe được mọi ý đồ tấn công của Trung Quốc.

Hải quân Mỹ có kế hoạch mở rộng hạm đội tàu chiến có trang bị hệ thống phòng thủ chống tên lửa đạn đạo, từ 26 lên thành 36 chiếc, từ nay đến năm 2018 và 60% số tàu chiến này sẽ được triển khai ở vùng châu Á- Thái Bình Dương.




Hoa Kỳ đang dự tính thành lập một hệ thống lá chắn phòng thủ phi đạn ở Châu Á để kiềm chế các mối đe dọa từ Bắc Triều Tiên và chống lại các khả năng phi đạn của Trung Quốc đang phát triển.


Báo Wall Street Journal của Mỹ cho hay hệ thống này có thể bao gồm một hệ thống radar mới ở miền Nam Nhật Bản và có thể là ở Đông Nam Á nữa.
Theo tờ Telegraph của Anh ngày 23/8, tin này được đưa ra sau khi một giới chức Hoa Kỳ không nêu tên cho Tuần báo Quốc phòng Jane’s Defence biết rằng quân đội Trung Quốc đã thử nghiệm phi đạn đạn đạo liên lục địa hôm 24/7 với tầm bắn xa có thể tấn công bất kỳ thành phố nào ở Hoa Kỳ.
Tuần báo này cho hay phi đạn mà Trung Quốc thử nghiệm DF-41 có thể mang 10 đầu đạn hạt nhân riêng rẽ, mỗi đầu đạn có thể được lập trình tấn công một mục đích riêng.


Ngoài ra, Ngũ Giác Đài cũng quan ngại trước việc Trung Quốc phát triển phi đạn chống tàu mới có thể tấn công các hạm đội của Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương. Các phi đạn này có tầm bắn 930 dặm được thiết kế để ngăn không cho tàu Mỹ áp tới Biển Đông, khu vực đang có tranh chấp căng thẳng.Báo The Australian cùng ngày 23/8 dẫn nguồn tin từ giới chức hải quân Mỹ cho biết Hoa Kỳ đang lên kế hoạch mở rộng hạm đội các tàu chiến có khả năng phòng thủ phi đạn đạn đạo, từ 26 chiếc hiện nay lên thành 36 chiếc vào năm 2018.


Các giới chức Mỹ nói 60% trong số này có phần chắc sẽ được bố trí tới khu vực Châu Á-Thái Bình Dương.


Trước đó một ngày, hôm 22/8, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Leon Panetta một lần nữa khẳng định là Mỹ sẽ tập trung và đưa lực lượng vào khu vực Thái Bình Dương.


Các kế hoạch tăng cường quân sự của Hoa Kỳ tại khu vực bị Trung Quốc cực lực phản đối, với những chỉ trích kịch liệt từ truyền thông Trung Quốc.
Tờ China Daily ngày 23/8 đăng bài tiếp tục cáo buộc Mỹ can thiệp vào khu vực, nhất là vùng Biển Đông, để tìm cách kiềm hãm sự trỗi dậy của Trung Quốc ở khu vực.


China Daily cảnh cáo rằng các thông điệp lẫn lộn của Mỹ đưa ra đối với các vấn đề quan trọng tại đây có thể dẫn tới những hiệu ứng ngược đối với nền hòa bình-ổn định trong khu vực.


Với lời tố cáo tương tự, Tân Hoa xã cùng ngày 23/8 đăng tải bài yêu cầu Mỹ ngưng gây thêm căng thẳng cho Biển Đông.


Hãng thông tấn của nhà nước Trung Quốc nói kể từ khi chính quyền của Tổng thống Barack Obama lên nắm quyền hồi năm 2009 tới nay, Hoa Kỳ đã khởi sự bành trướng can thiệp vào một loạt các tranh chấp lãnh hải giữa Trung Quốc với các nước ASEAN ở Biển Đông.


Bài báo của Tân Hoa xã yêu cầu Mỹ thay vì cam kết suông là không đứng về bên nào trong cuộc tranh chấp, Hoa Kỳ nên bắt đầu thật sự tôn trọng chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đông để tránh các tình huống gây cận

source The Australian, Telegraph, Xinhua, China Daily





Khu trục hạm lớp Atago của LLPV lãnh hải Nhật

Nhật Bản hiện đang là đối tác quan trọng nhất của Mỹ trong việc thiết lập một hệ thống phòng thủ tên lửa nhiều tầng nhằm chống lại các tên lửa ở mọi tầm bắn và mọi tầm bay.

Mỹ và Nhật Bản đang thảo luận việc nâng cấp sức mạnh cho hai chiếc tàu khu trục của Nhật Bản nhằm nâng cao khả năng phòng thủ trước một cuộc tấn công bằng tên lửa đạn đạo có thể xảy ra, một nguồn tin từ nhà thầu vũ khí hàng đầu của Ngũ Giác Đài, Mỹ hôm qua (15/8) đã tiết lộ như vậy.

Theo kế hoạch nâng cấp trị giá nhiều triệu USD, hai chiếc tàu khu trục lớp Atago mang tên lửa dẫn đường của Nhật Bản sẽ được trang bị hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo "Aegis" tối tân nhất, có sức mạnh ngang bằng những hệ thống được cung cấp cho tàu chiến của Hải quân Mỹ, ông Nick Bucci, người phụ trách các chương trình hàng hải tại tập đoàn sản xuất vũ khí hàng đầu Lockheed Martin Corp, cho biết.

Nhật Bản hiện đang là đối tác quan trọng nhất của Mỹ trong việc thiết lập một hệ thống phòng thủ tên lửa nhiều tầng nhằm chống lại các tên lửa ở mọi tầm bắn và mọi tầm bay. Mỹ đã chi khoảng 10 tỉ USD mỗi năm cho dự án phát triển lá chắn tên lửa này. Điều đó phản ánh nỗi quan ngại ngày càng tăng của Mỹ đối với Triều Tiên và Iran. Tokyo cũng có chung nỗi lo ngại về Triều Tiên với Washington, đặc biệt sau khi Bình Nhưỡng liên tục tiến hành các vụ thử tên lửa đạn đạo và vũ khí hạt nhân.

Hệ thống chiến đấu Aegis của tập đoàn lừng danh Lockheed Martin Aegis là sự kết hợp các thiết bị phức tạp khác nhau gồm radar, máy tính, phần mềm, máy phóng vũ khí và vũ khí nhằm chống lại một loạt mối đe dọa trên mặt đất, trên không và dưới nước. Mục đích của sự kết hợp này là nhằm tạo ra một hệ thống chiến đấu toàn diện nhất.

Không phải vô cớ mà Aegis được ví là tấm lá chắn huyền thoại của thần Zeuss. Nó chính là hệ thống chiến đấu tiên tiến và phức tạp nhất thế giới, là "trái tim" của hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo xuyên quốc gia mà Mỹ đang xây dựng.

Mỹ sẽ triển khai các hệ thống Aegis trên bờ biển của Rumani và Ba Lan bắt đầu từ năm 2015 với mục đích được cho là nhằm để bảo vệ Châu Âu khỏi các mối đe dọa từ các nước như Iran. Aegis cũng sẽ được lắp đặt trên một loạt tàu chiến của Mỹ.

K.L.(VnMedia) dẫn nguồn Reuters

Về hệ thống chiến đấu Aegis
Hệ thống chiến đấu Aegis do Hải quân Mỹ triển khai, được mệnh danh là hệ thống chiến đấu tiên tiến và phức tạp nhất thế giới, là "trái tim" của hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo xuyên quốc gia mà Mỹ đang xây dựng. Aegis là sự kết hợp các thiết bị phức tạp khác nhằm để tạo ra hệ thống chiến đấu toàn diện.

Aegis là gì?
Aegis là viết tắt của Airbonne Early-waring Ground Intergration Segment (Bộ phận hợp nhất thông tin cảnh báo sớm đường không trên mặt đất), được hiểu đơn giản hơn là “lá chắn”, nhằm đối phó với các tình huống chiến đấu khác nhau, trong đó đặc biệt ưu tiên cho tính năng phòng thủ tên lửa đạn đạo liên lục địa BMD.
Hệ thống Aegis được Lockheed Martin thiết kế và đưa vào sử dụng lần đầu đầu tiên từ năm 1987 trên tuần dương hạm Ticonderago, biến thể sử dụng trên tàu khu trục lớp Arleigh Burke được đưa vào sử dụng năm 1991.

Thành phần của Aegis
Hệ thống chiến đấu Aegis là sự tích hợp của nhiều thành phần khác nhau, dựa trên một số hệ thống cảm biến riêng biệt để theo dõi các mối đe dọa khác nhau từ mìn, ngư lôi, tàu ngầm, đến các mục tiêu đường không, tên lửa chống hạm, tên lửa đạn đạo, gồm:

1- Hệ thống radar AN/SPY-1, tìm kiếm mục tiêu và dẫn đường cho tên lửa chính của hệ thống Aegis. Đây là một hệ thống radar mạng pha đa chức năng, có khả năng giám sát 3 chiều, theo dõi hàng trăm mục tiêu cùng lúc, cung cấp kênh dẫn hướng pha giữa cho tên lửa đánh chặn SM.

Radar AN/SPY-1 được xem là trung tâm của hệ thống chiến đấu Aegis, với 2 biến thể. Biến thể AN/SPY-1A/B được trang bị cho các tàu tuần dương hạm Ticonderago, biến thể AN/SPY-1D được trang bị trên tàu khu trục lớp Arleigh Burke, radar này có thể theo dõi 100 mục tiêu ở cự ly 190km.

2- Hệ thống chỉ huy và quyết định (C&D) là hệ thống máy tính cực mạnh, phối hợp và kiểm soát một loạt hoạt động phức tạp của hệ thống Aegis.

3- Hệ thống kiểm soát và điều khiển vũ khí (WCS), kiểm soát trạng thái của tất cả các hệ thống vũ khí được dùng cho hệ thống Aegis.

4- Hệ thống kiểm soát bắn (FCS), cung cấp kênh dẫn hướng cho tên lửa đã được radar AN/SPY-1 chiếu xạ. FCS gồm 4 hệ thống radar AN/SPG-62A, hệ thống cho phép chiếu xạ và dẫn đường cho nhiều tên lửa tấn công mục tiêu cùng lúc.

5- Hệ thống hiển thị Aegis ADS, là máy tính điều khiển cung cấp hiển thị các hình ảnh phức tạp khác nhau về môi trường chiến thuật. Hệ thống được hiển thị dưới dạng hình ảnh mô phỏng đồ họa. Với ADS, người chỉ huy có thể quan sát và kiểm soát tình trạng hệ thống như môi trường xung quanh, hệ thống vũ khí và tình huống chiến tranh cụ thể. Sau khi nhập dữ liệu hệ thống sẽ tự động hiển thị thông tin về vị trí của tàu và các hệ thống liên quan. ADS được cập nhật thông tin từ hệ thống C&D.

6- Hệ thống hoạt động thử nghiệm ORTS, là hệ thống giám sát và thử nghiệm điều khiển máy tính, có khả năng phát hiện các lỗi, cách ly, theo dõi tình trạng và cấu hình lại hệ thống. ORTS tự động đánh giá và hiển thị mức cao nhất các tác động đến hệ thống. Thông qua bàn phím, người điều hành có thể bắt đầu thử nghiệm, đánh giá hiệu năng của hệ thống, tải các chương trình hay ứng dụng mới vào máy tính của Aegis. ORTS được thiết kết nhằm kiểm soát tất cả các lỗi có thể xảy đối với hệ thống đảm bảo cho hệ thống vận hành một cách chính xác nhất.

7- Hệ thống đào tạo Aegis, cho phép các nhân viên trên tàu Aegis thực hiện đào tạo thông qua các kịch bản chiến tranh. Hệ thống có khả năng ghi lại các tình huống, các sự kiện cụ thể cho việc tự đánh giá. Vận hành Aegis là một công việc cực kỳ phức tạp, do đó, nhân viên vận hành cần phải được đào tạo một cách bài bản và chuyên sâu.

8- Hệ thống vũ khí gồm các biến thể khác nhau của tên lửa đánh chặn SM-2/SM-3, pháo hạm, hệ thống Planlax, tên lửa chống hạm Harpoon, tên lửa hành trình Tomahawk.

Image

Image
Phòng điều khiển của hệ thống tác chiến Aegis


Cơ cấu vận hành 
Việc vận hành hệ thống chiến đấu Aegis là một quá trình phức tạp và đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ và ăn ý từ nhiều thành phần khác nhau.
Thiết kế ban đầu của Aegis nhằm đối phó với mối đe dọa từ tên lửa chống hạm, tuy nhiên các biến thể sau này chủ yếu tập trung cho nhiệm vụ phòng thủ tên lửa, đặc biệt là tên lửa đạn đạo liên lục địa.

Đầu tiên, hệ thống vệ tinh SATCOM sẽ thực hiện việc theo dõi và phát hiện sớm các vụ phóng tên lửa, đặc biệt là tên lửa đạn đạo liên lục địa.
Dữ liệu về các vụ phóng tên lửa sẽ được truyền cho các tàu có trang bị hệ thống chiến đấu Aegis. Riêng đối với tên lửa chống hạm, hệ thống có thể phát hiện sớm các vụ phóng tên lửa bằng chính radar AN/SPY-1 trên tàu Aegis.

Hệ thống chiến đấu Aegis sẽ kích hoạt radar AN/SPY-1 để theo dõi quỹ đạo bay của tên lửa, radar liên tục chiếu xạ mục tiêu, tham số về mục tiêu liên tục được cung cấp cho trung tâm điều khiển. Hệ thống điều khiển sẽ đánh giá quỹ đạo bay, tốc độ của tên lửa, sau đó dẫn đường cho tên lửa đánh chặn tiêu diệt mục tại tọa độ đã được hệ thống dữ liệu tính toán sẳn.

Radar AN/SPY-1 vừa có thể chiếu xạ mục tiêu và dẫn đường cho tên lửa đánh chặn cùng lúc, tuy nhiên, để phát huy tối đa năng lực đánh chặn, hệ thống chiến đấu Aegis thường kết hợp hai tàu chiến với nhau, hoặc một tàu tuần dương hạm Ticonderago với một tàu khu trục Arleigh Burke.

Radar AN/SPY-1 của một trong hai tàu chiến sẽ đảm được nhiệm vụ chiếu xạ mục tiêu, radar còn lại sẽ đảm đương nhiệm vụ dẫn đường cho tên lửa đánh chặn mục tiêu. Hệ thống liên lạc vệ tinh sẽ đảm đương công việc kết nối hai tàu chiến với nhau nhằm đảm bảo hệ thống vận hành một cách chính xác nhất.
Ngoài ra, để đánh chặn tên lửa một cách chính xác còn có sự phối hợp của các biện pháp chiến tranh điện tử nhằm phá vỡ các hoạt động gây nhiễu của đối phương. Cùng các hệ thống phụ khác để tạo nên hệ thống hoàn chỉnh.


Vũ khí
Vũ khí chính của hệ thống chiến đấu Aegis là tên lửa đánh chặn Standard Missile (SM), các biến thể đời đầu của hệ thống chiến đấu Aegis sử dụng tên lửa đánh chặn RIM-66/67/156 (SM-2).

Đây là loại tên lửa nhiên liệu rắn có tầm bắn tối đa tới 170km với tầm cao 24km. Biến thể SM-2 Block IIIA sử dụng đầu dò radar bán chủ động, SM-2 Block IIIB sử dụng đầu dò hồng ngoại bán chủ động. Tên lửa được phóng trong ống phóng tiêu chuẩn Mk-41. Các biến thể Aegis hiện đại hơn sử dụng tên lửa đánh chặn RIM-161 SM-3, tên lửa có tầm bắn lên đến 500km, tầm cao tới 160km, tên lửa được thiết kế để đánh chặn tên lửa đạn đạo liên lục địa ở bên ngoài tầng khí quyển.

Hiện tại, hệ thống chiến đấu Aegis đã được tích hợp trên toàn bộ các tàu khu trục lớp Arleigh Burke và tuần dương hạm Ticonderago của Mỹ cùng với một số tàu khu trục của Nhật Bản, Hàn Quốc, Tây Ban Nha và Na Uy với khoảng hơn 100 tàu chiến. (ĐVO)

Sinh Tồn chuyển


Aug 19, 2012

• Lính tác chiến (MỸ) tương lai không cần ăn, ngủ


Lính tác chiến (MỸ) tương lai không cần ăn, ngủ
by Hà Hương - Phương chuyển - 8/19/2012



Nhờ công nghệ biến đổi gen, binh sĩ tác chiến trong tương lai có thể chạy nhanh như các vận động viên Olympic và có thể hành quân trong nhiều ngày mà không cần ăn hay ngủ.

Đây là tiết lộ của tiểu thuyết gia Simon Conway, người đồng thời từng là một sĩ quan được tiếp cận với một dự án nghiên cứu biến đổi gen bí mật tại Cơ quan Dự án Nghiên cứu cấp cao Quốc phòng Mỹ (DARPA).

Các nhà khoa học quân sự Mỹ đang nghiên cứu để tạo ra ‘siêu chiến binh’ trong tương lai“Công nghệ mới giúp tái tạo nguồn năng lượng hiệu quả hơn, nhờ đó binh sĩ Mỹ có thể chạy nhanh như vận động viên Olympic, mang vác cực nặng và đặc biệt là không cần ăn uống, nghỉ ngơi”, Simon Conway cho biết trên Daily Mail

Hiện tại, các nhà khoa học của DARPA đang thực hiện nghiên cứu trên bộ xương người với mục đích tác động bằng kỹ thuật gen nhằm cho phép binh lính chạy nhanh hơn, mang được những vật nặng hơn. Ngoài ra, kỹ thuật biến đổi gen có thể giúp cơ thể người lính chuyển đổi chất béo thành năng lượng hiệu quả hơn, khiến họ không cần ăn uống trong nhiều ngày tại chiến trường.

Các nhà khoa học quân sự của Washington còn hy vọng có thể sử dụng công nghệ biến đổi gen để tác động tới tế bào giúp các binh sĩ trong tương lai tái tạo lại được chân tay đã bị đứt do bom, đạn. Cho tới nay, DARPA đã đạt được thành công bước đầu trong dự án tạo ra ‘siêu chiến binh’ trong tương lai, sau khi cơ quan này chế tạo ra loại thuốc giúp một phi công lái trực thăng quân sự bay 40 giờ liên tục không ngủ mà vẫn tỉnh táo. Loại thuốc này được hy vọng sẽ thay thế cho loại thuốc amphetamine được dùng để giúp các quân nhân tỉnh táo hơn trong quá trình làm nhiệm vụ.

Với ngân sách gần 2 tỷ USD/năm, DARPA được thành lập năm 1958 - khi Liên Xô phóng thành công tàu vũ trụ gây sốc cho người Mỹ - có nhiệm vụ duy trì địa vị hàng đầu về công nghệ quân sự của Mỹ trên chiến trường.
Hà Hương - Phương chuyển



-------------------------

Aug 18, 2012

• Tôi về Việt Nam đã nghe và thấy gì ở miền Nam sau 37 năm dưới chế độ Cộng sản



Lời người viết: 
Đây không phải là một phóng sự hay một bài nghiên cứu xã hội với những phương pháp khoa học của nó – mà chỉ là những điều vụn vặt mắt thấy tận nơi, tai nghe tận chỗ – ghi lại môt cách trung thực.

Tôi thấy bộ mặt Sài gòn đổi mới với: Những khách sạn 5 sao, 4 sao lộng lẫy. Đổi mới với những nhà hàng “ vĩ đại “ trên các tuyến đường du lịch. Với những trung tâm “thư giản” sang trọng, quý phái cở câu lạc bộ Lan Anh. Với những vũ trường cực kỳ tráng lệ như vũ trường New Century Hà nội. Với những trường Trung học tư thục mang tên Mỹ, giáo sư Mỹ, chương trình học của Mỹ, giảng dạy bằng tiếng Mỹ- học sinh phải trả học phí bằng tiền Mỹ – 1,000 – 1,500 US$ /tháng. (Giai cấp nào đủ sức trả học phí nầy cho con? )




Tôi cũng hiểu rằng các nơi nầy là nơi ăn chơi của vương tôn công tử “đỏ”, các nhà giàu mới – thân nhân các quyền lực đỏ đứng đàng sau, các quan chức đỏ đô la đầy túi. Họ đến đây để “thư giản”, uống rượu, đánh bạc, cá độ và tìm gái. Uống chơi vài chai rượu ngoại VSOP, XO là chuyện thường. Mỗi đêm có thể tiêu hàng ngàn đô la Mỹ cũng không phải là điều lạ. Trong khi lương tháng của một thầy giáo Trung học trường công không đủ để trả một chai rượu XO, vụ cá độ hàng triệu đô la đã bị phanh phui là một thí dụ cụ thể. Vũ trường New Century bị Công an đến giải tán vì các công tử và tiểu thư con các quan chức lớn nhảy đã rồi… “ lắc” suốt đêm.

Để vài hôm sau – đâu lại cũng vào đó…


Tôi cũng thấy Sài gòn- người, xe và phố xá dầy đặc, nghẹt thở – vài tòa cao ốc mọc lên vô trật tự – ở xa xa, có cái trông giống như chiếc hộp quẹt, nhà cửa mặt tiền hầu hết đều lên lầu nhiều tầng. Kiến trúc hiện đại. Vật liệu nhập cảng đắc tiền. Nhà trong hẻm – phần lớn cũng lên nhiều tầng cao nghệu. Có nhiều khu xây cất bừa bãi, nhô ra thụt vào như những chiếc răng lòi sĩ vô duyên, lấn chiếm ngang ngược đất công hoặc lề đường…


Tôi thấy Sài gòn bị ô nhiểm trầm trọng với hằng triệu tiếng động cơ, ngày đêm đinh tai nhức óc và 5.000.000 chiếc Honda – phun khói mịt mù – chưa kể đến xe hơi ???


Và hệ thống cống rảnh lạc hậu, mỗi khi trời mưa lớn – nước rút không kịp, ứ đọng tràn ngập nhà cửa. Hệ thống đổ rác còn lạc hậu không đáp ứng nổi nhu cầu thải rác của 10.000.000 dân nhung nhúc như kiến. Sài gòn đầy dẫy những hàng ngoại do công ty ngoại quốc sản xuất tại chỗ, hàng lậu của Trung quốc tràn vào vô số kể. Máu kinh tế Việt Nam bị loảng ra. Nhưng chế độ xã nghĩa im thin thít chịu trận, không dám một lời phản kháng. Một chiếc xe Honda nhãn hiệu Trung quốc giá khoản chừng 1,200 đô la, chưa kể hàng Trung quốc lậu thuế, rẻ mạt. Thuốc lá và bia – bia nội, bia ngoại – có đủ. 



Nhậu và hút là 2 cái mốt bình dân thời thượng nhứt ở Sài gòn. Đảng viên, cán bộ – giai cấp thống trị -”Nhậu”. Già nhậu, trẻ nhậu… con nít cũng tập tành nhậu. Hút thì khỏi nói. Giai cấp cán bộ răng đen mã tấu bây giờ là giai cấp nắm quyền thống trị – đã lột xác – không còn quấn thuốc rê, bập bập phà khói mịt mù nữa – mà lúc nào cũng lấp ló một gói 3 con 5, Craven A, trong túi. Lãnh đạo hút, cán bộ hút, dân chúng hút – thậm chí con nít 9, 10 tuổi ở đồng quê cũng phì phà điếu thuốc một cách khoái trá. Các hảng bia và thuốc lá ngoại quốc đã tìm được một thị trường tiêu thụ béo bở. Cán bộ lớn cũng âu phục cà vạt hẳn hoi, xe hơi bóng loáng, nhưng bộ răng hô, mái tóc bạc thếch, và nước da mông mốc, cũng không dấu được nét thô kệch của một anh nhà quê mới lên Tỉnh. Tôi còn thấy Sài gòn với hiện tượng “tiếm công vi tư” lộng hành, ngang ngược của Công an đến độ dân chúng quen thuộc, xem là một chuyện đương nhiên như chuyện hối lộ đã trở thành cái lệ bất thành văn trong chế độ xã nghĩa. Chiếm đoạt một nửa công viên, xây nhà gạch dùng làm quán cà phê. 

Chưa thỏa mãn – ban đêm còn dọn thêm bàn ghế trên sân cỏ của phần công viên còn lại và thắp đèn màu trên mấy chậu kiểng cho thêm thơ mộng. Ông chủ bự nầy chắc chắc không phải là dân thường. Ông lớn nầy xem công viên như đất nhà của ông vậy. Ai có dịp đi ngang qua mũi tàu – nơi gặp gở của 2 đường Nguyễn Trải và Lê Lai cũ, ngang hông nhà thờ Huyện Sĩ – thì rõ.



Còn nhiều, rất nhiều chuyện lộng hành chiếm đất công, lấn lề đường nhan nhãn ở khắp Sai gòn. Chỉ đưa ra vài thí dụ cụ thể: Một công thự tại vườn Tao đàn (có lẽ là nhà cấp cho viên Giám đốc Công viên Tao đàn) – mặt tiền ngó vào trong – mặt hậu nhìn ra phía đường Nguyễn Du (Taberd cũ) – bên có màn trổ cửa mặt sau nhà, xây thêm phía sau thành 2 căn phố thương mãi mặt tiền ngó ra đường Nguyễn Du, trị giá mỗi căn, nhiều trăm ngàn mỹ kim – ngon ơ ! Tương tự như vậy – ở góc đường Thành Thái và Cộng Hoà cũ, trước sân nhà của ông Hiệu Trưởng trường Quốc gia Sư Phạm trước 75 – phố thương mãi, quán xá la liệt chiếm mất mặt tiền. 

Ngang ngược và lộng hành nhứt là 2 căn phố thương mãi bên hông trường Trương minh Ký, đường Trần hưng Đạo, chễm chệ xây lên ngay bên góc phải sân trường như thách đố dân chúng. Còn trên lề đường khá rộng trước câu lạc bộ CSS cũ, bây giờ là câu lạc bộ Lao động – nhiều gian hàng thương mãi bán quần áo, giày vớ thể thao, buôn bán ầm ỉ, náo nhiệt suốt ngày. Công an chiếm đất công, xây nhà tư. Công viên, lề đường trước nhà dân là đất riêng của Công An. Công an sử dụng làm chỗ gửi xe, bịt kín cả lối đi vào nhà. Không ai dám hó hé. Im lặng là an toàn. Thưa gửi là dại dột. Mà thưa với ai? Tất nhiên là phải thưa với công an. Không lẽ công an xử công an? Tướng CS Trần Độ phản ảnh còn rõ rệt hơn : “Xã hội Việt Nam ngày nay là một xã hội vô pháp luật mà phần đầu tiên gây ra là Đảng. 


Không thể nào chống tham nhũng được vì nếu Đảng chống tham nhũng thì Đảng chống lại Đảng sao? “ (Nhật ký “Rồng Rắn” của Trần Độ). Nón cối, nón tai bèo, dép râu, áo chemise xùng xình bỏ ngoài chiếc quần màu cứt ngựa của người cán bộ CS ngơ ngác khi mới vào Sài gòn – đã biến mất. Cũng không còn thấy những chiếc áo dài tha thướt của những cô gái đi dạo phố ngày cuối tuần trên các đại lộ Lê Lợi, Lê thánh Tôn, Tự do những ngày trước 75 nữa. Thay vào đó là một đội ngũ phụ nữ – mũi và miệng bịt kín bằng “khẩu trang”, găng tay dài đến cùi chỏ, cỡi Honda chạy như bay trên đường phố.



Tôi còn thấy những người nghèo khổ chở trên chiếc xe thồ, những thùng carton và bao túi ny lông, chồng chất lên nhau cao ngất như sắp đổ xuống… Những bà cụ già, những cậu bé tuổi đáng được ngồi ở ghế nhà trường, những anh phế binh cụt tay, cụt chân, lê lết trên một miếng ván gổ … đi bán vé số (một cách ăn xin trá hình).

Bộ mặt Sài gòn “đổi mới” bằng những khách sạn lộng lẫy, những câu lạc bộ thời thượng, những phố xá thương mãi sang trọng, những hiệu kim hoàn lóng lánh kim cương, những nhà hàng ăn vĩ đại, những vũ trường cực kỳ tráng lệ, những biệt thự đồ sộ nguy nga mới xây bằng vật liệu ngoại đắt tiền, trang trí cây cảnh như một mảng vườn Thượng uyển của vua chúa ngày xưa, những xe hơi bóng loáng nhởn nhơ trên đường phố – Nhiều người chóa mắt. choáng váng, cho là “Việt Nam bây giờ tiến bộ quá”. Riêng Phó thường dân tôi tự nghĩ : Như vậy có phải là tiến bộ không ? Sự tiến bộ của một nước cần phải nhìn về nhiều mặt : 


Mặt y tế và giáo dục, mặt đời sống vật chất và tinh thần của dân chúng. Lợi tức đầu người của Việt Nam – theo thống kê của báo The Economist – bằng: 800 US$ năm 2011 (Hà Nội bốc lên 1,000 US$, chỉ hơn Lào và Cambodia chút đỉnh. So với các nước láng giềng: Thái Lan: 3.500 US$ – Phi luật Tân: 2.000 US$ – Nam Dương: 1.160.US$. Tân gia Ba 30.000 US$. (The Economist World, năm 2011 – p. 158, 176, 238) – Việt Nam còn lẹt đẹt đàng sau rất xa. Và trước bộ mặt thay đổi choáng ngợp nầy – nếu đặt câu hỏi: Ai là chủ nhân của những xe hơi, khách sạn- vũ trường, những thương hiệu lớn, những biệt thự lộng lẫy kia? – Thì câu trả lời không sợ sai lầm là của cán bộ đảng viên (tại chức hoặc giải ngủ) hoặc con cháu thân nhân của họ. Và ở thôn quê – Giai cấp giàu có bây giờ là ai ? Giai cấp địa chủ là ai ? Có phải do của cải của ông cha để lại hay do sự kinh doanh tự do, mua bán làm ăn mà có ???



Hiện tượng người Bắc XHCN chiếm hữu toàn bộ phố xá thương mại quan trọng ở Sài gòn, khống chế mọi lãnh vực trọng yếu ở miền Nam

Cho dù núp dưới cái hào quang chiến thắng “đánh Tây, đuổi Mỹ” – cho dù che giấu, lấp liếm, giải thích thế nào chăng nữa – Thì dân miền Nam (gồm cả Nam lẫn Bắc theo chế độ Tự Do) vẫn thấy một sự thật. Sự thật đó là người Bắc XHCN tràn ngập, chiếm hữu toàn bộ phố xá thương mãi trọng yếu của Sài gòn. Làm sao nói khác được khi đi một vòng quanh Sài gòn và các khu phố sầm uất nhứt, vào những hiệu buôn lớn để mua hàng hay hỏi han chuyện trò thì thấy toàn là người Bắc Cộng sản – Từ cô bán hàng đến bà chủ ngồi phía trong cũng toàn là người của xã hội chủ nghĩa miền Bắc. Các tiệm buôn lớn trước 75- như các tiệm vàng Nguyễn thế Tài, Nguyễn thế Năng, Pharmacie Trang Hai, tiệm Émile Bodin của bầu Yên, nhà hàng Bồng Lai, Thanh Thế, Nguyễn văn Đắc, Phạm thị Trước. Hiện nay, một số đã đổi bảng hiệu hoặc xây cât lại nhưng đều do người miền Bắc XHCN làm chủ. Các cơ sở khác như nhà hàng ăn lớn, tiệm phở, công ty thương nghiệp, dịch vụ lớn, những tiệm buôn bán đồ nhập cảng v. v. cũng đều do người Bắc XHCN chiếm giữ. 


Tuy không có con số thống kê chính xác nhưng tự mình đi đếm hàng trăm tiệm buôn sang trọng quanh các khu phố lớn ở Sài gòn thì khám phá ra được chủ nhân là người Bắc XHCN (Tất nhiên là vợ con, thân nhân cán bộ lớn). Những gái Bắc XHCN bán hàng là con cháu của chủ nhân người Bắc CS (do các cô tự nói ra). Các cô chiêu đãi viên trên phi cơ VNHK đều là người Bắc thân nhân hay con cháu cán bộ – dĩ nhiên – vẻ mặt lạnh lùng, hách dịch với người Việt Nam và khúm núm lịch sự với khách ngoại quốc. Cán bộ, công nhân viên trọng yếu – Cũng đều là người Bắc – Trừ một số cán bộ gốc miền Nam ra Bắc tập kết – theo đoàn quân viễn chinh vào đánh chiếm miền Nam – Thì cũng kể họ là người XHCN miền Bắc cả. Hệ thống quyền lực từ trên đến dưới – Từ Trung ương đến địa phương – Từ Tỉnh thành đến quận lỵ, thị trấn, làng xã gần – đều do đảng viên người miền Bắc XHCN – nắm giữ. Những công Ty dịch vụ có tầm cở, những công Ty thương mãi sản xuất lớn – điển hình là một công Ty vận tải và du lịch có đến 10,000 xe hơi đủ loại, chủ nhân cũng là người Bắc XHCN. Từ chính trị đến văn hóa, từ giáo dục đến truyền thông, từ nhà cầm quyền cai trị đến chủ nhân cơ sở thương mãi, sản xuất – Cũng là do người miền Bắc XHCN nắm giữ. 


Đó là sự thật trước mắt ai cũng thấy. Còn những vàng bạc, kim cương, đô la, tài sản tịch thu, chiếm đoạt được trong các cuộc đánh tư sản, cải tạo công thuơng nghiệp – nhà cửa của tù cải tạo, của dân bị đuổi đi kinh tế mới, những tấn vàng của VNCH để lại, những luợng vàng thu được từ những người vuợt biên bán chánh thức – tài sản những người thuộc diện tư sản – toàn bộ tài sản nầy từ Sài gòn đến các Tỉnh miền Trung, miền Nam – được đem đi đâu? – Không ai biết. Thông thường – những của cãi nầy phải được sung vào công quỹ – để làm việc công ích như các ông cộng sản thường rêu rao bằng những mỹ từ đẹp đẻ. Thế nhưng – sự thật trước nhứt – là các ông đem chia chác nhau. Chia nhau một cách hợp hiến và hợp pháp theo Luật pháp XHCN (Đọc Đất đai-Nguồn sống và Hiểm Họa của Tiến sĩ Nguyễn thanh Giang). Ông lớn lấy tài sản lớn. Ông nhỏ – nhà cửa nhỏ. Có ông cán bộ trung cấp chiếm hữu đến 4, 5 căn nhà. Ở không hết… đem cho công Ty ngoại quốc thuê. 


Điều phổ biến nhứt là các ông cán bộ nầy – vì lo sợ cái gì đó – bèn đem “ bán non” những căn nhà đó lấy tiền bỏ túi trước. Một căn nhà của một viên chức tù cải tạo đã sang tay đến 3 đời chủ. Nhà cửa thuộc diện tù cải tạo là dứt khoát phải tịch thu – không ngoại lệ. Những trường hợp con ruột có hộ khẩu chánh thức còn được phép ở lại – là những biện pháp vá víu. Chủ quyền căn nhà nầy là Nhà nước XHCN. Không chỉ có những người thuộc diện cải tạo công thương nghiệp, tù cải tạo, vượt biên mà người dân thường có nhà cửa phố xá đều bị “ giải phóng” ra khỏi nhà bằng nhiều chánh sách: Đuổi đi kinh tế mới, dụ vào hợp tác xã tiểu công nghiệp, mượn nhà làm trụ sở, cho cán bộ vào ở chung (chủ nhà chịu không nổi… phải bỏ đi), đổi tiền để vô sản hoá người dân, khiến họ bắt buộc phải bán tất cả những gì có thể bán để mua gạo ăn, cuối cùng chịu không nổi, phải bán nhà với giá rẻ bỏ, để vô hẻm ở, ra ngoại ô hoặc về quê… Cán bộ hoặc thân nhân cán bộ miền Bắc XHCN tràn vào “mua” nhà Saigòn với giá gần như cho không… và bây giờ là chủ những căn nhà mặt tiền ở Sài gòn. Mang xe tăng T. 54, cà nông Liên xô, AK Trung cộng, đẩy hàng hàng lớp lớp thiếu niên “xẻ dọc Trường Sơn” bằng máu, nước mắt và xác chết… vào xâm chiếm miền Nam. 



Chiêu bài là “giải phóng” nhân dân miền Nam – nhưng sự thật khó chối cãi được – là vào để chiếm đoạt tài sản, đất đai, của cải, đuổi dân Sài gòn (gồm cả người Nam lẫn Bắc theo chế độ Tự Do) ra khỏi Thủ Đô bằng nhiều chánh sách khác nhau – để bây giờ chính các ông đã trở thành những nhà tư bản đỏ triệu phú, tỉ phú đô la, vàng bạc kim cương đầy túi – những ông chủ công Ty có tầm vóc, những địa chủ đầy quyền lực. Trương mục ở nước ngoài đầy nhóc đô la. Con cái du học ngoại quốc. (Trường hợp con Thủ Tướng CS Nguyễn tấn Dũng đang du học Mỹ là trường hợp điển hình).

Như vậy hành vi nầy gọi là gì? Trong những lúc canh tàn rượu tỉnh – một mình đối diện với luơng tâm thuần luơng của mình – các ông tự gọi mình đi. Đến thời “mở cửa” – cơ hội hốt tiền còn nhiều hơn gấp bội. Tư bản ngoại quốc ồ ạt đầu tư, khai thác dầu khí, thâu đô la Việt kiều về thăm quê hương – đô la khách du lịch ngoại quốc, bán đất cho Công Ty ngoại quốc xây cất cơ xưởng, cấp giấy phép các công Ty ngoại quốc, các dịch vụ đấu thầu xây cất cầu cống, làm đuờng xá, xây cất đại công tác. 


Những món nợ kếch xù từ Ngân hàng thế giới, từ quỷ tiền tệ quốc tế – những món nợ trả đến mấy đời con cháu cũng chưa dứt. Những đại công tác nầy mặc sức mà ăn, no bóc ké. Nhiều công trình vừa xây cất xong đã muốn sụp xuống vì nạn ăn bớt vật liệu. Một thí dụ diển hình: Một bệnh viện gần chợ “cua” Long Hồ – quê hương của Phạm Hùng – nước vôi còn chưa ráo đã muốn sụp. Hiện đóng cửa không sử dụng được. Hiện tượng người Bắc XHCN khống chế toàn bộ, làm chủ nhân ông mọi lãnh vực, chiếm hữu nhà cửa, phố xá thương mãi ở những khu thương mãi quan trọng nhứt – là một sự thật không thể chối bỏ. Cán bộ lớn đã trở thành những nhà tài phiệt đầy quyền lực – những ông chủ lớn giàu có nhứt lịch sử. Trong khi dân chúng miền quê – nhứt là miền Nam – ngày càng nghèo khổ, thất nghiệp kinh niên. Khoảng cách giàu nghèo càng lớn – đời sống cán bộ và dân chúng càng ngày cách biệt. Giàu thì giàu quá sức. Nghèo thì nghèo cùng cực. 



Nhà văn – bác sĩ Hoàng Chính – gọi thời kỳ sau 75 là thời “Bắc thuộc”: – “Năm Bắc thuộc thứ 2: Lưu vong tại quê nhà trong cái đói lạnh. – Năm Bắc thuộc thứ 6: Cầu cho em nhỏ 10 tuổi đầu đủ cơm ăn giữa bầy thú hát điên cuồng chuyện thù oán. – Năm Bắc thuộc thứ 12: Trong ngục thất quê hương ấy, có những bộ xương thôi tập khóc cười. “ Miền Bắc XHCN đem quân xâm chiếm miền Nam để khống chế nơi đó bằng sự đô hộ hà khắc và tinh vi.

Bộ mặt của thôn quê miền Nam

Có nhìn tận mắt, nghe tận nơi, mới hình dung được khuôn mặt miền Nam sau 37 năm dưới chế độ cọng sản. Để được trung thực – người viết ghi những điều thấy và nghe – không bình luận – tại những nơi đã đi qua. 

Thôn quê miền Nam – những làng xóm gần tỉnh lỵ quận lỵ đã có điện. Những làng xã xa xôi hẻo lánh vẫn còn sống trong sự tăm tối. Đường sá có tu sửa phần nào. Đường mòn đi sâu vào thôn xóm được lót bằng những tấm dalle lớn (đường xóm Cái Nứa, Cái Chuối xã Long Mỹ, VL), xe Honda và xe đạp chạy qua được. “Cầu tre lắt lẻo”, cầu khỉ được thay thế bằng cầu ván, cầu đúc (vật liệu nhẹ). Cầu tiêu công cộng trên sông các chợ quận (Cái bè, Cái răng) nay không còn thấy nữa. Nhà cửa dọc theo bờ sông Cần Thơ – chen vào những nhà gạch ngói, nhà tôn – còn nhiều nhà lá nghèo nàn. Tương tự như vậy – dọc theo bờ sông Long Hồ – một số nhà gạch nhỏ mới cất. xen kẻ những mái lá bạc màu. Vùng Trà ốp, Trà Cú (Vĩnh Bình), chợ Thầy Phó (Vĩnh Long) nhiều nhà gạch mới xây nhưng vẫn không thiếu nhà lá, nhà tôn. 


Đường mòn chạy sâu vào thôn xóm vẫn còn đường đất lầy lội vào mùa mưa nước nổi. Hai bên đường xe chạy từ Mỹ Tho, Cao Lãnh, Châu Đốc, Hà Tiên, Rạch Giá, Cần Thơ. Nhìn chung – có một sự thay đổi rõ rệt. Nhà cửa, hàng quán dầy đặc, động cơ ồn ào, người ta chen chúc. Cảm giác chung là ngột ngạt, khó thở. Những vườn cây xanh um bên đường đã biến mất hoặc thụt sâu vào trong, không còn thấy nữa. Không còn vẻ đẹp thiên nhiên ngày nào của vườn xoài cát sai oằn, mát mắt vùng Cái Bè, An Hữu, vườn mận Hồng Đào chạy dài hàng mấy cây số ở Trung Lương. Dưới sông – từ kinh Vỉnh Tế chảy dài ra sông Tiền Giang – hai bên bờ toàn là nhà sàn, phía sau chống đở sơ sài bằng những trụ cây tràm. Mỗi nhà hoặc 2, 3 nhà đều có cầu tiêu tiểu bắc phía sau. Tắm rửa giặt giũ, múc nước lên uống, phóng uế – cũng cùng trên một dòng sông. Không có gì thay đổi. 


Làng Chàm còn gọi là chà Châu Giang cũng còn đó. Cũng nghèo như trước. Những chiếc ghe vừa dùng làm nhà ở, vừa là hồ nuôi cá Basa, cá điêu hồng v. v. ở dọc bờ sông khá dài. Dường như ngành nầy hoạt động khá mạnh. Dọc trên những nhánh phụ lưu của 2 con sông Tìền và sông Hậu – người ta không còn thấy bóng dáng của những cô gái thướt tha trong chiếc áo bà ba và chiếc quần lãnh Mỹ A, chèo ghe tam bản, bơi xuồng như thời trước 75 nữa. Hỏi một ông già tên Ph. tại Cái Răng, được trả lời: “ Đi lấy Đại Hàn, Đài Loan hết rồi ông ơi! “ Tôi hỏi thêm: “ Các cô gái có nghe nhiều người bị gạt bán vào ổ mãi dâm, nhiều cô gái bị chồng bắt làm lao động khổ sai, bị ngược đãi, đánh đập. các cô gái nầy không sợ sao ông? – “ Biết hết – mấy cổ biết hết, báo Tuổi trẻ đăng hàng ngày. Nhưng cũng có những cô có chồng Đại Hàn, cho tiền cha mẹ xây nhà gạch. Cô khác thấy vậy ham. Phần nghèo, phần không có việc làm kinh niên. Họ liều đó ông, biết đâu gặp may.



Câu chuyện gái Việt lấy chồng Đại Hàn, Đài Loan hiện không ai là không biết. Tờ Tuổi trẻ – số ra ngày mùng 1 Tết năm Đinh Hợi – trong bài: “ Nỗi đau từ những con số”- có nói đến số phận của 65.000 phụ nữ đang làm vợ những ông chồng Đài Loan già, tàn tật đui mù, làm vợ tập thể cho cả gia đình cha lẫn con. Cũng do tờ báo nầy: “Tại một tổ chức kết hôn lậu, hàng chục cô gái đang “bày hàng” để 2 ông Hàn quốc tuyển chọn làm vợ và 118 cô gái khác đang nằm, ngồi, lố nhố chờ đến luợt mình “ Và cũng do tờ Tuổi Trẻ số phát hành ngày 25-04-2007, viết: “Hơn 60 cô gái, tuổi từ 18 đến 20 từ miền Tây Nam bộ lên Sài gòn để dự tuyển. Các chàng rể Hàn Quốc được quyền soi xem kỷ, chú ý đến cả từng vết thẹo trên thân thể cô gái.Dich vụ môi giới hôn nhân lậu có chiều hướng gia tăng. Chỉ trong vòng nửa tháng mà Công An đã phát hiện 3 vụ môi giới hôn nhân trái phép ở quận 6, 10 và Tân Bình với gần 400 lượt cô gái hiện diện. Thậm chí – những cô gái được xe ôm chở tới địa điểm dồn dập gây náo loạn cả xóm”. 

Người viết có lần lang thang trên đường Nguyễn tri Phương tìm quán ăn cơm trưa, có chứng kiến tại chỗ: Từng cặp trai gái lố nhố xếp hàng đôi trước cửa một trường học, để lần luợt vào trong. Hỏi một người trung niên lái xe Honda ôm, được anh trả lời: ‘ “Đó là những người con gái đi lấy chồng Đài Loan và Đại Hàn. Hàng bên trong là những đang làm thủ tục xuất ngoại theo chồng. Hàng bên ngoài là những người đang vào ký giấy hôn thú sau khi đã qua các cửa ải môi giới và thủ tục tuyển lựa”. Tôi nhìn kỷ các cô gái nầy tuổi rất trẻ khoản chừng 18 đến 20, đứng cặp với những anh Tàu già sồn sồn- có một người tàn tật. Không thấy có thanh niên trẻ. Nhìn cách ăn mặc và nghe họ nói chuyện – tôi đoán chừng họ đến từ miền Tây Nam Bộ. 


Đây là tổ chức môi giới chánh thức có giấy phép hành nghề. Song song với tổ chức chánh thức, còn có một tổ chức “ môi giới hôn nhân lậu”- sự thật là một tổ chức buôn người, chuyên đi dụ dỗ trẻ em và gái, nói gạt là đi bán hàng hay đi làm việc tại các cơ xưởng ngoại quốc nhưng là để bán thẳng vào các ổ mãi dâm ở Kampuchia, Thái Lan, Ma Cau để nơi đây huấn luyện trẻ em làm nô lệ tình dục, các cô gái làm điếm, hoặc bán cho người Tàu bỏ tiền ra mua nô lệ. Tất nhiên là phải có sự tiếp tay che chở ăn chia của Công An. 


Nói là lậu nhưng thật ra là nhan nhãn xảy ra hằng tuần – thậm chí hằng ngày trước mặt dân chúng tại các quận Bình Thạnh, quận 11, Sàigòn. Cho dù chánh thức hay lậu, hậu quả cũng gần giống nhau. Chánh thức thì có giấy phép, có công an làm thủ tục, chánh phủ thu tiền lệ phí. Lậu thì lén lút với sự che chở của Công An. Hậu quả gần giống nhau. Nhiều cô gái về làm vợ mấy tên Đài Loan, Đại Hàn bị ngược đãi, đánh đập tàn nhẫn – ban ngày làm nô dịch, ban đêm phục vụ tình dục rồi bán vào động mãi dâm lấy tiền gở vốn lại. (Trại cứu giúp nạn nhân của cha Hùng ở Đài Bắc là một bằng chứng) Còn lậu thì bán thẳng vào ổ điếm.



Biết bao nhiêu thảm cảnh, biết bao nhiêu bi kịch thương tâm làm rúng động lương tâm nhân loại. Cựu Quốc Trưởng Sihanouk không giấu được nỗi xót xa trước thảm cảnh người phụ nữ Miên làm vợ mấy thằng Tàu, lên tiếng kêu gọi họ trở về nước. Không thấy Việt Nam nói nửa lời! Những cô gái nầy có biết những thảm kịch đau thương, những sự hành hạ, ngược đãi, đánh đập. nầy khi lấy chồng Đài Loan, Đại Hàn không? Có bị cưỡng bức, bị dụ dỗ hay tự nguyện? Cha mẹ có đồng ý hay cản trở? Nguyên nhân nào đã thúc đẩy họ dấn thân vào con đường hiểm nguy, tương lai mù mịt? Trừ những trường hợp bị dụ dỗ qua đường dây buôn người – những người con gái này thật sự là họ TỰ NGUYỆN. 

Họ còn phải vay tiền mua sắm, ăn diện, hối lộ để đuợc giới thiệu. Nhưng nguyên nhân nào thúc đẩy họ đi lấy chồng Đài Loan, Đại Hàn? Có thể có nhiều nguyên nhân phức tạp. Phó thường dân tôi chỉ đưa ra vài nhận định thiển cận như sau: Quá nhiều chương trình ngăn chống lũ lụt, chương trình công nghiệp hóa, đô thị hoá bừa bãi, không được nghiên cứu cẩn trọng, đất đai canh tác bị thu hẹp, Dân số gia tăng. Khối lượng đông đảo người miền Trung, Bắc XHCN tràn vào. Nông dân miền Nam thiếu đất canh tác. Các cô gái miền Tây quẩn bách vì không có việc làm kinh niên – cuộc sống vô vọng mịt mờ – có nhiều trường hợp bị thúc đẩy vì cha mẹ mắng nhiếc, đay nghiến khi so sánh con gái mình với cô con gái làng bên có chồng Đại Hàn mang tiền về xây nhà gạch cho cha mẹ. Và cũng vì hấp thụ một nền giáo dục của chế độ CS (sinh sau 75) – những người trẻ tuổi không có ý niệm về luân lý đạo đức cũ, thang giá trị bị đảo lộn nên họ không đặt nặng danh dự, sĩ diện như thời trước. Do vậy – khi bị dồn vào đường cùng họ đành đánh liều nhắm mắt đưa chưn. Nhưng động lực chánh là nghèo.



Nghèo
Là nguyên nhân chánh đưa đẩy các cô gái miền Tây Nam Bộ đi lấy chồng Đại Hàn và Đài Loan… để hy vọng thoát khỏi cảnh đời cơ cực, vô vọng không lối thoát. Thế nhưng tại sao đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) – vựa lúa nuôi sống cả nước – sau 32 năm dưới chế độ CS lại trở nên nghèo như vậy – nghèo hơn cả đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) ? Theo tiêu chuẩn nghèo từng vùng của Tổng cục thống kê Việt Nam – thì tỷ lệ ĐBSCL năm 1998: ĐBSC: 37%. ĐBSH: 29% . Năm 2002: ĐBSCL: 13 %. ĐBSH: 9%. (Nhà x. b Thống kê – Hànội, trang 13 – LVB trích dẫn) Dù theo tiêu chuẩn nào: tiền tệ (tính bắng tiền hay bằng gạo) – mức sống (bao gồm lương thực, nhà ờ, mức sống văn hóa) – ĐBSCL vẫn nghèo hơn ĐBSH – bởi lẽ khi nghèo về lương thực – thì khó có thể giàu về nhà ở và đời sống văn hoá. 

Đó là cái nghèo mà anh Lâm văn Bé đã nhìn qua những con số có giá trị của những chương trình nghiên cứu thống kê khoa học. Và sau đây là cái nghèo miền Nam qua cái nhìn tận mắt, nghe tận nơi của người viết: Cái nghèo ở Việt Nam bao gồm cả thành thị lẫn thôn quê là cái nghèo thiếu trước hụt sau, ăn bữa sáng lo bữa chiều – cái nghèo của một nông dân, nhà dột nát. khi trời mưa lúc ban đêm, không có chỗ để nằm phải tìm một góc nhà, phủ cái mền rách lên người ngồi run cằm cặp, trước từng cơn gió lạnh buốt lùa vào căn nhà trống hốc… 


Cái nghèo của một người đi mượn tiền, muợn gạo. tới ngày hẹn không tiền trả. Cái nghèo của một thanh niên thất nghiệp, cha bị lao phổi không tiền mua thuốc nằm ho sù sụ, mẹ bơi xuồng đi bán bắp nấu không đủ gạo cho một đàn con 4 đứa, mũi dãi lòng thòng đang bốc đất cát chơi ngoài sân. Tục ngữ bình dân có câu: Ít ai giàu 3 họ, khó 3 đời. – Có. Tôi quen biết ông Sáu S. làm nghề chày lưới. ở sông Long Hồ. Đời con là anh Tư Te tiếp nối nghề nầy: nghề đi nhủi tép. Và trên bờ sông Long Hồ năm nay (2011) tôi thấy vợ chồng một cậu thanh niên tên M. vừa cặp xuồng vào bến, đem miệng nhủi còn dính đầy rong rêu phơi trên mái nhà lá đã nhuộm màu thời gian bạc thếch. Hỏi thăm thì té ra là con của Tư Te. 


Đời ông nội – nghèo! Đời cha nghèo! Đời cháu cũng nghèo! Khó 3 đời đó. Cọng Sản đổi đời cho người giàu thành nghèo – không đổi đời cho người nghèo thành giàu. Người nghèo vẫn tiếp tục nghèo. Nói chung thì nông dân Việt Nam chiếm 85% dân số mà đất không đủ để canh tác – còn công nghiệp không có khả năng biến nông dân thành thợ thuyền. trong khi dân số lại gia tăng quá tải. Cho nên thất nghiệp không thể tránh. Nghèo là hiện thực. Tiến sĩ Lê đăng Doanh trong một bài phổ biến trên mạng, viết : “Nông dân đã nghèo, đất đã kém đi, nhưng mỗi năm thêm 1 triệu miệng ăn, lấy đâu ra mà ăn. Lao động vất vả mỗi ngày trên 8m2 đất thì lấy gì mà giàu có được? “



Miền Nam – 37 năm dưới chế độ Cộng sản
Kinh tế Việt Nam – trong đó có miền Nam – có chút tiến bộ – so từ thời kỳ bao cấp đến thời kỳ mở cửa. Nhưng chỉ là tiến bộ với chính mình. Đối với các nước khác trong vùng thì còn lẹt đẹt, cầm lồng đèn đỏ… Và điều quan trọng là sự phát triển nầy có đem lại phúc lợi cho dân chúng qua sự tái phân lợi tức quốc gia, để tài trợ các chương trình y tế, giáo dục (hiện nhiều người nghèo không có tiền đóng học phí bậc Tiểu học cho con) – các chương trình tạo công ăn việc làm, phát triển nông nghiệp, xây dựng hạ tầng cơ sở hay không? Hay là phát triển bằng những con số báo cáo rổng tuếch? Lợi tức tạo được đã bị cả hệ thống của những con virus tham nhũng đục nát cơ thể. Và hiện tại – muốn phát triển công nghiệp – nhà cầm quyền địa phương – theo lệnh Đảng – mở rộng khu công nghiệp, khu du lịch, đã quy hoạch lấy đất, phá mồ phá mả, chiếm nhà dân một cách bạo ngược. Lòng dân phẩn uất, kêu la than khóc. Oán hận ngút trời xanh! (19 Tỉnh miền Nam biểu tình khiếu kiện trước trụ sở quốc hội 2 Sàigòn). Như vậy có gọi là phát triển không?

Kết luận


- 37 năm nhìn lại:

Người ta thấy miền Bắc đã “giải phóng” dân Sài gòn ra khỏi đất đai, nhà cửa của họ. Họ phải rút vô hẻm, ra ngoại ô hay về quê bằng nhiều chánh sách khác nhau. “Giải phóng” miền ĐBSCL ra khỏi sự trù phú do thiên nhiên ưu đãi từ nhiều thế kỷ. “Giải phóng” quân nhân, viên chức chế độ cũ ra khỏi nhà, để đưa họ vào các trại tù cải tạo hoặc đẩy họ ra biển… “ Giải phóng” phụ nữ miền Tây, để họ được tự do đi làm “vợ nô lệ”, đi làm điếm ở Kampuchia, TháiLan.


Image



- 37 năm nhìn lại:
Người ta thấy Việt Nam trở lại thời kỳ mua bán nô lệ như thời Trung cổ. Phụ nữ Việt Nam bị bán đấu giá trên E-bay Taiwan website (2010) – bị trưng bày trong lồng kính, cũng để bán đấu giá như một con súc vật ở Singapour (2011). Chỉ trong năm 2011 – có khoản 400.000 phụ nữ và trẻ em bị bán ra ngoại quốc. (Theo UNI CEF – LHQ và Bộ Tư Pháp Việt Nam)


- 37 năm nhìn lại:

Mượn lời nhà báo Claude Allegre, báo L’expresse ngày 29-8-2011: “Người ta không thể cho qua một cách im lặng những Khơ me đỏ, những trại tập trung ở Cambodia và những cuộc tàn sát man rợ ở đó. Và Việt Nam không được biết đến như là một chế độ nhân đạo hơn. Dưới cái cớ là dân tộc can đảm nầy đã chiến thắng các siêu cường quốc – người ta đi đến chỗ quên đi một nền độc tài đẫm máu đang thực thi trên xứ sở”

- 37 năm nhìn lại:

Miền Bắc XHCN rõ ràng đã thiết lập một nền đô hộ miền Nam – khắc nghiệt, tinh vi hơn cả thời Pháp thuộc. Và điều quan trọng trên hết là Việt Nam đang đứng trước hiểm họa mất nước. Một trí thức Việt Nam lên tiếng cảnh cáo: “Việt Nam đang đứng trước hiểm họa mất nước. Mất cả đất đai, sông núi và dân tộc. Việt Nam sẽ trở thành một tỉnh lẻ của Tàu.” (Trích Người việt hải ngoại – Nguyễn văn Trấn)


Image


:arrow: Lão Ngoan Đồng says: August 18, 2012 at 9:00 pm


Bài viết thật hay, thật buồn và thật sự đưa lòng oán hận lên tận trời xanh.

Dù cho là người chưa bao giờ biết kỳ thị người khác, thì bây giờ, do sự oán hận đó, lòng kỳ thị người Miền Bắc XHCN bổng phát sinh. Cái xã hội do bọn theo chủ nghĩa xã hội tạo dựng, người bóc lột người, người đàn áp người, mà họ là người của hai miền đất nước, kẻ có quyền đàn áp là người Việt Nam miền Bắc XHCN , và người bị đàn áp là người Việt Nam miền Nam.


Image

Những tội lổi đó ai đã tạo nên ? Chắc chắn rằng ai cũng có thể trả lời câu hỏi nầy : đó là do bọn Việt cộng, tay sai của đế quốc cộng sản.
Vậy còn chần chờ gì nữa mà không tiêu diệt chúng
dù có thí mạng với chúng thì cũng cam lòng, cũng xứng đáng.