Jun 7, 2013

• Những sự thật cần phải biết - Đặng Chí Hùng

Những sự thật cần phải biết 
Phần 1: Những sự thật về Việt Nam Cộng Hòa
Sự thật về "đại thắng mùa xuân 1975"

by Đặng Chí Hùng




Kính thưa bạn đọc DLB, cùng với loạt bài "Những sự thật không thể chối bỏ" đã đăng trên Danlambao thì tôi xin tiếp tục gửi đến bạn đọc loạt bài mới mang tựa đề "Những sự thật cần phải biết" bao gồm 30 bài. Những bài viết về "Những sự thật không thể chối bỏ" viết về những sự thật của nhân vật gián điệp, bán nước và giết người hàng loạt: Hồ Chí Minh. Loạt bài "Những sự thật cần phải biết" sẽ có 3 phần: 

:D Những sự thật về Việt Nam Cộng Hòa, 
:D Những sự Thật về đảng cộng sản Việt Nam và 
:D Những sự thật về những đệ tử của Hồ Chí Minh. 


Tại sao là "Những sự thật cần phải biết"? Vì tôi muốn tất cả những ai bị lừa dối, nhất là những thế hệ trẻ, biết những sự thật mà nó đáng lẽ ra phải được công nhận nhưng đã bị đảng cộng sản bóp méo nhằm mục đích cai trị độc tài tại Việt Nam. Đó cũng là một trong những việc để góp phần chấn hưng dân trí nhằm đem lại mùa xuân dân chủ của dân tộc.

Bài 1: Sự thật về "đại thắng mùa xuân 1975"

Trong bài 1 của phần 1 này tôi xin đề cập đến một sự thật của cái gọi là "đại thắng mùa xuân" năm 1975 của quân đội Nhân dân Việt Nam - quân đội của Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa (VNDCCH).

Phải nói là gia đình tôi cũng có rất nhiều thương binh, liệt sỹ của chế độ cộng sản. Bản thân bố của tôi là một người lính cộng sản từ lúc tốt nghiệp cấp 3 cho đến lúc về hưu trí. Tuy nhiên tôi có nguyên tắc phải tôn trọng những gì là sự thật nên tôi không cho phép tôi tự lừa dối mình, tự lừa dối nhân dân bằng những luận điệu ca tụng giả tạo của đảng cộng sản. Chính vì vậy tôi xin phép được trình bày trong khuôn khổ bài này sự thật về "đại thắng mùa xuân" năm 1975 để kết thúc bằng ngày 30/4 mà chính ông Võ Văn Kiệt phải thốt lên "Ngày của triệu người buồn".

Trong thất bại của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) trước VNDCCH có rất nhiều nguyên nhân chủ quan có, khách quan có. Nhưng trong khuôn khổ bài viết này tôi xin đề cập đến vấn đề chính yếu dẫn tới kết cục buồn cho một nền dân chủ non trẻ trước sự hung ác của chế độ cộng sản đó là: Vấn đề quân sự.

Thật ra trước tôi đã có hàng trăm bài viết của các bên phân tích cuộc chiến 1975, nhưng ở bài viết này tôi xin vạch rõ cho bạn đọc thấy sự thất bại của VNCH không phải bởi họ kém, họ không anh dũng mà thực chất họ bị ép chết trong những mưu đồ chính trị, hay quân đội cộng sản anh hùng thần thánh mà chính bởi vì quân lực VNCH thời điểm từ sau năm 1973 đã bị tước bỏ khả năng chiến đấu, trong khi đó đối thủ của họ lại được tăng cường một cách khủng khiếp. Trong chiến tranh việc thua kém về quân số, về trang bị quân sự không thể phủ lấp được bằng chiến thuật hay sự anh dũng dù có cố gắng đến mấy. Chính quân đội cộng sản cũng đã trải qua điều này vì trước 1973, quận đội cộng sản dù cố gắng đến mấy cũng không thể đánh chiếm miền Nam dù họ có chiến thuật đánh du kích giúp bảo tồn lực lượng khá tốt.

Bỏ qua các yếu tố của sai lầm chiến thuật như vội vã rút bỏ Tây Nguyên của ông Nguyễn Văn Thiệu hay sự sai lầm trong tổ chức trong cuộc rút lui quân đoàn 1 ở Huế và Đà Nẵng thì nguyên nhân sâu xa chính là vấn đề quân số và trang thiết bị của quân đội VNCH so với VNDCCH thời điểm năm 1975 là quá chênh lệch với cán cân nghiêng hẳn về VNDCCH. Vậy thì chẳng có chiến thắng thần thánh nào cả, chỉ là một sự tất yếu của kẻ có sức mạnh quân sự vượt trội với mưu toan đi xâm chiếm mà thôi.


1. Người Mỹ đã bỏ Việt Nam Cộng Hòa:
Chúng ta có thể thấy trong cuộc chiến tranh Việt Nam, đứng đằng sau VNCH là người Mỹ. Còn đứng sau VNDCCH là Liên Xô và Trung cộng. Cho đến trước năm 1973 thì quân đội cộng sản trong các chiến dịch đánh chiếm miền Nam, họ đều không thành công và chịu tổn thất nặng nề về cả trang thiết bị quân sự như năm 1968, 1972 (sẽ đề cập những sự thật này ở những bài sau). Vậy tại sao một chính thể dân chủ, tự do như vậy lại thất bại? Đó là họ bị chính đồng minh của họ quay lưng.

Người Mỹ thật ra không thua trong cuộc chiến tại Việt Nam, họ từ bỏ người đồng minh VNCH bởi vì hai lý do: Họ không muốn tiếp tục một cuộc chiến hao tiền tốn của mà ở một đất nước đề cao tình nhân bản như Mỹ không cho phép. Và một phần nào đó là chính sách đối ngoại của ngoại trường H. Kissinger. Để chứng minh cho luận điểm này tôi xin được nêu rõ sau đây.

Đầu tiên, Trong một bài viết của báo Thanh Niên - của đảng cộng sản Việt Nam có nhan đề "Mỹ bỏ rơi VNCH" có đường links sau: 
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20100 ... -vnch.aspx

Trong bài báo lấy tư liệu của CIA được chính những người cộng sản công nhận có viết:

"Ngày 21.4, Tổng thống Thiệu từ chức ở Sài Gòn. Ngày 23.4, Tổng thống Ford đáp chuyên cơ đi News Orleans để diễn thuyết tại Đại học Tulane.

Tình hình VN biến chuyển quá nhanh, và dư luận quốc tế cũng như cử tri Mỹ đang chờ đợi xem vị nguyên thủ cường quốc hàng đầu thế giới sẽ nói gì đây. Theo tài liệu thì chiều hôm đó, như để lấy thêm can đảm, Tổng thống Ford đã uống một ly cocktail trong tiệc chiêu đãi, rồi ông bước vào nơi mọi người đang chờ nghe diễn văn.

Địa điểm Tổng thống Ford diễn thuyết là sân chơi bóng trong nhà của trường đại học, nơi đã có hàng ngàn sinh viên tụ họp chờ đợi. Ông chậm rãi, nhấn mạnh từng chữ: "Đối với Mỹ, chiến tranh VN đã kết thúc". 

Chỉ cần nhìn vào câu nói của ông Ford cũng cho thấy với người Mỹ việc bỏ VNCH cho cộng sản xâm chiếm là điều hiển nhiên. Vậy thì VNCH có thua trong cuộc chiến cũng chỉ là một điều bình thường nằm trong toan tính của người Mỹ. 

Thứ hai, Nói đến việc bỏ rơi VNCH của Mỹ chúng ta cũng phải nhìn nhận ở các con số thực tế. Thực chất VNCH nhận viện trợ từ Mỹ gồm 2 phần đó là kinh tế và viện trợ quân sự. Xin nêu ra đây một ví dụ: 

"Viện trợ của Mỹ cho VNCH gồm hai phần, viện trợ kinh tế và viện trợ quân sự. Về viện trợ kinh tế, trong tài khóa 54-64 thì tổng số tiền là 2.121.000.000 USD (lúc bấy giờ), trong đó 2.025.000.000 là dưới hình thức không hoàn lại, 96 triệu là viện trợ tín dụng dài hạn.. Số tiền trên, 1.874.000.000 là nằm trong chương trình AID (Agency for International Development) và 247.000.000 thuộc chương trình Nông phẩm thặng dư hay với tên gọi “Thực phẩm cho Hòa bình”".

Trong khi đó thì VNDCCH tuy nhân dân nghèo đói nhưng lại hầu như nhận được viện trợ quân sự từ chính quyền Xô Viết và Trung cộng? Tại sao nhân dân một nước nghèo đói lại không được chính quyền chăm lo kinh tế mà phải đi xin viện trợ quân sự để đánh nước khác có văn minh, có nền kinh tế, giáo dục phát triển mạnh hơn? Đó chính là mưu đồ nhuộm đỏ Việt Nam mà ông Hồ có nhiệm vụ thực hiện để dâng tặng Trung cộng, triệt tiêu nội lực dân tộc mà tôi đã dẫn chứng ở "Những sự thật không thể chối bỏ". Và đây là những con số nói lên điều đó: 

"Trong khi đó, viện trợ cho VNDCCH đa phần là về mặt quân sự. Hai nước chính yếu nhất là LX và TQ, trong hai kế hoạch 5 năm, lần thứ nhất và thứ 2, con số như sau:

- Thời kỳ 55-60: LX tặng 400 triệu rúp cũ, cho vay 510 triệu rúp cũ. TQ tặng 900 triệu NDT cho vay 300 triệu NDT.
- Thời kỳ 60-65: LX tặng 20 triệu rúp cũ, cho vay 430 triệu rúp cũ. TQ cho vay 141,75 triệu rúp mới. Quy ra VNĐ (thời bấy giờ) thì VNDCCH đã nhận tổng viện trợ 4.229.786.023 VNĐ, trong đó viện trợ không hoàn lại là 1.524.599.823 VNĐ và vay tín dụng là 2.705.186.200 VNĐ".

Và những con số và điều khẳng định ưu thế được viện trợ hơn hẳn về mặt quân sự này cho thấy những gì thuộc về "thần thánh" chỉ là giả tạo. Một cỗ máy chiến tranh được bơm tiền kinh khủng như vậy sao lại nói là "Phải chống chọi với đế quốc sừng sỏ viện trợ tối đa quân sự cho Ngụy quân, ngụy quyền"?. Có gì là thiên tài không khi chiến thắng bằng một núi tiền được đổi bằng chính biển đảo của tổ quốc (xin đọc - Công hàm bán nước của Hồ Chí Minh - Phạm Văn Đồng ky năm 1958 - Những sự thật không thể chối bỏ phần 2).

Bạn đọc có thể tìm hiểu những đoạn trích trong cuốn "Kinh tế Việt Nam" do Nhà Xuất bản Giáo dục xuất bản năm 2000 - một cuốn sách của đảng cộng sản Việt Nam.

Thứ ba, Phía VNDCCH đã có những thông tin cho thấy họ biết VNCH đang bị Mỹ cắt giảm dần viện trợ theo thơi gian. Đây là báo cáo "Tình hình viện trợ của địch" của Cục nghiên cứu - Bộ tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam (VNDCCH) về tình hình viện trợ của Mỹ cho VNCH: 

Image
Ngân sách năm 1969


Image
Ngân sách năm 1970


Chỉ cần lấy ví dụ nhỏ đã cho thấy theo thời gian viện trợ về kinh tế và kỹ thuật, quân sự của Mỹ cho VNCH đã càng ngày càng giảm đi. Vậy thì một nước đang tứ bề thọ địch lại bị cắt giảm chi viện cả về kinh tế, quân sự phải chịu thua trước một nước kẻ cướp có gì là phi lý?

Thứ tư, hãy nghe người Trung cộng nói gì về sự việc VNCH bị Mỹ bỏ rơi. Trong cuốn sách "Trung quốc và Đông Nam á" của hai tác giả La Cường - Kim Văn được xuất bản bởi Nhà Xuất bản Lý luận Trung ương Trung quốc trang 56 có đoạn "Trung hoa có công lớn trong việc đẩy Hoa Kỳ vào một thế bị động kinh tế cũng như quân sự trên chiến trường Việt Nam. Chính điều này dẫn đến hậu quả tất yếu của sự thoái lui hoàn toàn, bỏ mặc sống chết chính quyền Sài Gòn của Hoa Kỳ sau năm 1973. Quan trọng hơn chính việc này giúp cho VNDCCH giành ưu thế tuyệt đối trong cuộc đối đầu quân sự năm 1975...". 

Vậy thì chúng ta thấy được điều gì qua đoạn trích? Đó chính là việc người "anh em" của đảng Cộng sản Việt Nam đã sớm biết điều đó và công nhận rằng chiến thắng của VNDCCH trước VNCH chỉ là một sự tất yếu khi Mỹ bỏ rơi đồng minh của mình. Không có cái gọi là thần kỳ của công lao của đảng hay ông Hồ ở đây. 

Thứ năm, Liên Xô không phải không biết điều này, và chính họ là người cùng Trung cộng chỉ đạo cũng như hậu thuẫn trong Chiến dịch Mùa xuân năm 1975. Trong báo cáo tổng kết của quân đội Liên Xô năm 1977 có đoạn tại trang 20: "Sau khi chúng ta có đầy đủ báo cáo về sự thiếu hụt lực lượng, khí tài của quân đội VNCH do người Mỹ không muốn lún sâu vào chiến tranh Việt Nam thì thông tin đã kịp thời đến với phía VNDCCH. Chúng ta cũng có quyết sách đúng đắn khi gửi tới Hà Nội phái đoàn quân sự cao cấp để giúp chính phủ VNDCCH thêm sức mạnh quân sự kết thúc cuộc chiến Việt Nam..."

Thế ra là người Liên Xô cũng đã biết, biết rất rõ và công nhận VNCH đã bị Mỹ bỏ rơi. Và họ đã thừa nhận tăng thêm quân sự cho VNDCCH để tiến chiếm miền Nam.

Thứ sáu, có lẽ tôi không cần phải nhắc lại nhiều nhân chứng của phía VNCH mà tôi chỉ xin trích đoạn trong hồi ký: "Khi đồng minh tháo chạy" của ông Nguyễn Tiến Hưng - Giáo sư kinh tế tại trường đại học Howard, cuốn sách được xuất bản năm 2005 gồm 700 trang viết về những tài liệu rất trung thực lần đầu được công bố của chính phủ Mỹ, VNCH về cuộc chiến Việt Nam. 


Trong cuốn sách có đoạn viết: 

"Trở lại vấn đề lệ thuộc về vật chất, như chính TT Ford đã viết trong Hồi Ký của ông: chỉ tới đầu 1975, khi Quốc Hội Mỹ cắt hầu hết quân viện, Miền Nam mới mất một tỉnh đầu tiên trong suốt cuộc chiến, đó là Phước Long. Rồi từ Phước Long tới Ban Mê Thuột, tới Pleiku, Đà Nẵng và sau hết là Sàigòn. Có điều là trong năm 1974, tuy quân đội VNCH đã tiếp tục chiến đấu, nhưng kho đạn dự trữ đã được sử dụng gần hết. Vào thời điểm cuối cùng, số đạn tồn kho chỉ còn đủ cung ứng từ 30 tới 45 ngày. Thay vì được tiếp liệu đầy đủ như đã được cam kết, Hoa Kỳ từng bước một, đi đến quyết định cắt đứt luôn. Ấy là chưa kể số tiền viện trợ cần thiết để yểm trợ cho nền kinh tế. Nó đã vừa bị cắt xén, vừa bị mất giá (vì khủng hoảng dầu lửa), nên đã giảm xuống tới mức bi đát. Vì vậy, từ mùa hè 1974, không những khả năng chiến đấu đã kiệt quệ mà cả tinh thần của giới lãnh đạo, chỉ huy các cấp đã bắt đầu lung lay rồi. Càng ngày càng suy yếu đi nhanh, khi các đài phát thanh VOA, BBC liên tục đưa tin cắt viện trợ."

Vậy ta thấy được gì từ cuốn sách của một người trong cuộc nắm vững như ông Nguyễn Tiến Hưng? Đó là những sự thật cho thấy Mỹ đã bỏ rơi VNCH trong cuộc chiến với cộng sản cả về chính trị, kinh tế và đặc biệt là quân sự.

Còn rất nhiều tài liệu của VNCH cho thấy sự thật phũ phàng đó. Tuy nhiên tôi xin không nêu nhiều mà chỉ cần lấy một ví dụ là đủ. Tôi muốn cho các bạn thấy một dẫn chứng cũng của phía cộng sản Việt Nam đã nói lên sự thật đó.

Thứ bảy, chúng ta có thể thấy được thêm một sự khẳng định này qua đoạn trích dưới đây trong cuốn sách là hồi ký của tướng cộng sản Văn Tiến Dũng mang tựa đề "Đại thắng mùa xuân" có đoạn "Nhận thấy tình hình Mỹ không còn muốn chi viện cho địch, bộ chính trị và bộ tổng tham mưu họp khẩn trương thống nhất để tổng tấn công trên khắp miền Nam..." 

Qua đây chúng ta thấy điều gì? Đó là chính các vị tướng của cộng sản cũng nhận thấy Mỹ đã bỏ rơi VNCH và điều này cho thấy cái sự thật của "đại thắng mùa xuân" chỉ là lừa dối. 

Cũng cần phải nói thêm về việc lý do thứ hai trong việc VNCH bị thất bại trong cuộc chiến chính nghĩa bảo vệ nền tự do dân chủ trước sự xâm lăng cường bạo của cộng sản. Đó là sai lầm trong chiến lược ngoại giao của Mỹ cũng như cá nhân ngoại trưởng H. Kissinger. Điều này được thể hiện qua tài liệu đã được giải mật của chính phủ Mỹ. Đó là biên bản cuộc họp tại Bắc Kinh giữa Chu Ân Lai và H. Kissinger về vấn đề Việt Nam, Châu Á ngày 20 tháng 6 năm 1972 tại Bắc kinh. Trong buổi họp này, Tiến Sĩ Henry Kissinger, Phụ Tá An Ninh của Tổng Thống Richard M. Nixon, và Thủ Tướng Trung Cộng Chu Ân Lai đã thảo luận nhiều vấn đề thế giới và đặc biệt là giải quyết cuộc chiến Việt Nam. Tài liệu gồm 37 trang dưới đây cho thấy sức mạnh và ảnh hưởng của các cường quốc trên thế giới. Từ trang 1 đến trang 26, Hoa Kỳ và Trung Cộng bàn thảo về tương quan giữa các quốc gia cùng an ninh toàn cầu. Đặc biệt từ trang 27 đến trang cuối, Kissinger và Chu Ân Lai bàn luận kế hoạch giải quyết vấn đề Đông Dương. Khai thác sự rạn nứt Trung – Nga năm 1969, Hoa Kỳ muốn tái lập bang giao với Trung Cộng. Bang giao với Trung Cộng sẽ giúp Hoa Kỳ chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam, lấy lại hết tù binh, giải quyết những bất ổn chính trị tại Hoa Kỳ và còn được khai thác thị trường to lớn trong lục địa. Để tái thiết ngoại giao với Trung Hoa, Kissinger đã nói với Thủ Tướng họ Chu: “Nếu chúng tôi sống chung được với một chính quyền cộng sản Trung Hoa, chúng tôi sẽ chấp nhận được ở Đông Dương”. Ngoài ra Kissinger cũng gián tiếp cam kết với Chu Ân Lai Hoa Kỳ không có ý định tiêu diệt hoặc đánh bại cộng sản Bắc Việt.

Bạn đọc có thể tìm đọc nguyên bản tiếng Anh tại links sau: 
http://www.gwu.edu/~nsarchiv/NSAEBB/NSA ... -20-72.pdf

Tam dịch một đoạn quan trọng trong số đó "Những Nhân Vật Tham Dự: Thủ Tướng Chu Ân; Lai Ch’iao Kuan-hua Phó Tổng Trưởng Ngoại Giao; Chang Wen-Chin, Phụ Tá Tổng Trưởng Ngoại Giao; Tang Wen-sheng, Chao-chu, Thông Dịch Viên Hai nhân viên ghi chú biên bản, Tiến Sĩ Henry A. Kissinger, Phụ Tá Tổng Thống về An Ninh Quốc Gia; Winston Lord, Nhân Viên Hội Đồng An Ninh Quốc Gia; John D. Negroponte, Nhân Viên Hội Đồng An Ninh Quốc Gia.

Ngày và Giờ: Thứ Ba, ngày 20 tháng 6 nắm 1972, 2:05 – 6:05 chiều
Địa Điểm: Đại Sảnh Đường Nhân Dân, Bắc Kinh.

Dưới đây là cuộc đàm thoại, thương lượng và trả giá giữa Henry A. Kissinger Cố Vấn An Ninh của Tổng Thống Richard M. Nixon và Thủ Tướng Trung Cộng Chu Ân Lai về tương lai VNCH.


Từ trang 27:
Tiến Sĩ Kissinger: Đó không phải là ý định của chúng tôi. Chúng tôi không có ý định thành lập một chế độ công quản - nó đòi hỏi một hoàn cảnh khác thường để chúng tôi thực hiện điều này. Không phải là ý đồ của chúng tôi để tạo ra một chế độ công quản. Chúng tôi thực có ý định tạo dựng một bức tường ngăn chặn chủ nghĩa bành trướng, dù về chính trị hay là thực thể vật chất. Điều khiến chúng tôi quan ngại nhất là khi cường quốc khai thác những xung đột địa phương cho mục đích riêng của họ.

:arrow: Thủ Tướng Chu: Trong những phản đối của Nga Sô về bản thông cáo giữa chúng tôi với quí quốc hình như họ đặc biệt bày tỏ sự phản đối về nguyên tắc chung: “Không bên nào nên làm bá chủ.” Họ có nghĩ là điều đó nhắm vào họ không?

:mrgreen: Tiến Sĩ Kissinger: Họ không nói, nhưng hình như họ nghĩ rằng điều đó có thể nhắm vào họ. Chúng tôi cho rằng nó nhắm vào những quốc gia muốn tạo chế độ công quản. Tôi có một thắc mắc lý thú từ Ấn Độ – không biết Thủ Tướng có nghĩ vậy không. Họ nói rằng khi Á Châu – Thái Bình Dương không bao gồm Ấ Độ, vậy những gì chúng tôi nói tức là chúng tôi thỏa thuận để Trung Hoa công quản Ấn Độ (cười). Nên tôi nói với họ là không đúng. Tôi mong Thủ Tướng không phật ý.

:arrow: Thủ Tướng Chu: Ấn Độ là một quốc gia hết sức mập mờ. Đó là một quốc gia rất to lớn. Nhiều khi họ làm ra vẻ một quốc gia lớn, nhưng nhiều khi họ có mặc cảm tự ti.

:mrgreen: Tiến Sĩ Kissinger: Họ bị khống chế bởi ngoại bang qua gần hết lịch sử của họ.

:arrow: Thủ Tướng Chu: Vâng, đó có thể là một trong những nhân tố lịch sử. Và một nhân tố nữa là quá nhiều cạnh tranh vĩ đại trên thế giới. Bây giờ chúng ta sang tới vấn đề Đông Dương – - Tôi muốn nghe ông trình bày.

:mrgreen: Tiến Sĩ Kissinger: Thủ Tướng có nói ông có vài nhận định muốn nói với tôi. Có lẽ chúng ta nên đổi vị trí để Thủ Tướng phát biểu trước.

:arrow: Thủ Tướng Chu: Có những vấn đề cần tranh luận, và chúng tôi muốn nghe ông trước để biết giải pháp của ông cho vấn đề.

:mrgreen: Tiến Sĩ Kissinger: Thủ Tướng muốn gợi ý là sau khi nghe tôi trình bày tôi sẽ thuyết phục được khiến mọi tranh luận sẽ biến mất, và sẽ không còn điều gì thêm để Thủ Tướng phải nhận định?

:arrow: Thủ Tướng Chu: Tôi không có những dự tính đó, nhưng tôi thực sự mong sẽ giảm thiểu được những tranh luận.

:mrgreen: Tiến Sĩ Kissinger: Tôi sẽ trình bày sự thẩm định thật vô tư của chúng tôi. Tôi biết không hợp với ý Thủ Tướng, nhưng tôi nghĩ dù sao nó cũng ích lợi để Thủ Tướng hiểu quan điểm của chúng tôi về hiện tình. Và tôi sẽ trình bày tình hình từ khi Bắc Việt bắt đầu vụ tấn công ngày 30 tháng 3. Tôi tin rằng tôi đã giải thích vói Thủ Tướng những mục tiêu tổng quát của chúng tôi ở Đông Dương. Hiển nhiên không phải mục tiêu của chính phủ này là sẽ duy trì vĩnh viễn những căn cứ tại Đông Dương hoặc tiếp tục chính sách khởi xướng bởi vị tổng trưởng ngoại giao đã từ chối bắt tay Thủ Tướng. Không phải như vậy? chúng ta đang ở một giai đoạn lịch sử khác. Chúng tôi tin rằng tương lai quan hệ của chúng tôi với Bắc Kinh quan trọng vô biên cho tương lai của Á Châu hơn là những gì xảy ra tại Phnom Penh, tại Hà Nội hoặc ở Sài gòn. Chắc Thủ Tướng còn nhớ khi Tổng Thống Johnson đưa quân đội Hoa Kỳ vào Việt Nam ông biện minh rằng vì một phần những gì xảy ra tại Đông Dương đã được kế hoạch tại Bắc Kinh và là một phần của âm mưu thôn tính toàn cầu. Dean Rusk đã diễn đạt như vậy trong một bản tuyên bố. Rồi quí quốc tiến hành cuộc Cách Mạng Văn Hóa và không, với những gì tôi đọc, nhấn mạnh đến phiêu lưu ra ngoại bang.

Với thực tế chúng ta đang ngồi họp trong phòng này đủ thay đổi nền tảng mục đích của cuộc can thiệp đầu tiên tại Đông Dương. Là người thừa hưởng cuộc chiến vấn đề của chúng tôi là tìm cách thanh toán nó với một phương thức không ảnh hưởng đến uy tín toàn cầu của chúng tôi và – - đây không phải là mối quan tâm chính của Thủ Tướng – - để ổn định nội bộ tại Hoa Kỳ. Nên chúng tôi đã chân thành cố gắng để chấm dứt chiến tranh, và Thủ Tướng có thể biết hoặc không biết, tôi đã đích thân khởi xướng thương lượng với Bắc Việt năm 1967 khi tôi còn ở ngoại biên của chính quyền khi không được quần chúng ưa thích, vì tôi tin rằng phải có một giải pháp chính trị để chấm dứt cuộc chiến. Rồi từ khi chúng tôi nắm chính quyền chúng tôi đã cố gắng chấm dứt cuộc chiến. Và chúng tôi hiểu, như tôi đã thưa với Thủ Tướng trước đây là, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là một nhân tố vĩnh viễn trên bán đảo Đông Dương và có thể là một thực thể mạnh nhất. Và chúng tôi đã không có ý định tiêu diệt họ hoặc ngay cả đánh bại họ. Sau khi chiến tranh chấm dứt chúng tôi sẽ triệt thoái xa 12 ngàn dậm. Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vẫn chỉ cách Sài gòn 300 dậm. Đó là một thực tế mà họ có vẻ không hiểu.

:arrow: Thủ Tướng Chu: Điều mà họ quan tâm tới là vụ gọi là Việt Nam Hóa chiến tranh của quí quốc.

:mrgreen: Tiến Sĩ Kissinger: Nhưng họ có một sự thiếu tự tin kỳ lạ. Chúng tôi đã cố gắng làm gì? Chúng ta hãy quên “họ là bậc thầy về phân tích những điểm khác nhau nhưng quên những khái niệm toàn bộ”. Chúng tôi đã cố gắng tách rời hậu quả quân sự ra khỏi hậu quả chính trị để rút ra khỏi vùng và để những thế lực địa phương tự xếp đặt tương lai của họ. Thật rất kỳ lạ, phía Bắc Việt đã cố níu chúng tôi ở lại để chúng tôi giải quyết vấn đề chính trị cho họ. Thí dụ như ngày 30 tháng 5 vừa qua, chúng tôi đã đề nghị là chúng tôi sẽ triệt thoái tất cả lực lượng nếu có sự ngưng bắn và hoàn trả các tù binh.

Đúng là ngày 31, không phải 30. Phía Bắc Việt sẽ ở đâu ngày hôm nay nếu họ đã chấp thuận dề nghị này. Tại sao? Vì họ muốn chúng tôi lật đổ chính quyền và đặt để chính quyền của họ vào. Chúng tôi không thương lượng. Tôi cố gắng giải thích điều chúng tôi suy nghĩ.

Hậu quả thực tế của những đề nghị của chúng tôi vẫn là để chúng tôi triệt thoái. Hậu quả thực tế của những đề nghị của họ là giữ chúng tôi ở lại.

Họ có hỏi chúng tôi “có một đòi hỏi họ đưa ra mà chúng tôi đã không đáp ứng, không thể đáp ứng và sẽ không đáp ứng, dù phải trả với giá nào với những quan hệ khác”, và đó là chúng tôi lật đổ những nhân vật chúng tôi vẫn thường giao thiệp và cũng là những người tin tưởng ở chúng tôi, đã có một hành động nào đó. Đây không phải là sự ưa thích cá nhân của một nhân vật nào đó đối với những nhân vật liên hệ. Không phải vì chúng tôi muốn có một chính quyền thân Mỹ ở Sài gòn. Tại sao chúng tôi lại muốn một chính quyền thân Mỹ ở Sài gòn khi chúng tôi có thể sống với những chính quyền không thân Mỹ tại các quốc gia to lớn hơn nhiều ở Á Châu? Vì rằng một quốc gia không thể bị đòi hỏi để ràng buộc vào một hành động phản bội to lớn và coi đó như một nền tảng của chính sách đối ngoại.

:arrow: Thủ Tướng Chu: Ông nói triệt thoái những lực lượng. Ông muốn nói triệt thoái toàn bộ Lục quân, Hải quân, Không quân, các căn cứ và tất cả?

:mrgreen: Tiến Sĩ Kissinger: Năm ngoái khi tôi ở đây, Thủ Tướng đã hỏi tôi điều này. Tôi đã trình Thủ Tướng chúng tôi muốn lưu lai một số cố vấn. Rồi Thủ Tướng có nói một câu rất hay về hậu quả của cái mà Thủ Tướng gọi là “để cái đuôi ở lại.” Phần lớn do lời nói đó, chúng tôi, trong vòng một tháng, đã thay đổi đề nghị của chúng tôi nên bây giờ bao gồm luôn việc triệt thoái toàn bộ cố vấn trong những loại Thủ Tướng nêu lên bây giờ. Chúng tôi đã chuẩn bị triệt thoái tất cả lực lượng.
...."

Qua đoạn dịch ngắn này chúng ta có thể thấy chính phủ Mỹ và đại diện là Kissinger đã bỏ rơi VNCH theo một chính sách ngoại giao mới với Trung cộng thì việc thua thiệt của VNCH chẳng có gì là lạ.

Kết luận: Qua 8 dẫn chứng cụ thể chúng ta có thể thấy rằng chính quyền dân chủ, tự do đã không được đồng minh của mình tiếp trợ nữa và chính điều này là một trong các yếu tố khiến cho VNCH thất bại. Nhưng để nói rõ hơn chúng ta cùng xem phần dưới đây để thấy rõ hơn trong khi VNCH bị cắt giảm viện trợ kinh tế, quân sự đến tận cùng thì ngược lại phía VNDCCH được tăng cường kinh khủng thế nào.

2. Chi viện khủng khiếp:
Trong giai đoạn sau năm 1973, trong khi VNCH bị Mỹ bỏ rơi như đã chứng minh ở trên thì ngược lại phía VNDCCH lại được chi viện một cách khủng khiếp về mặt kinh tế nhưng đặc biệt tăng vọt về mặt quân sự. Điều này lý giải cho "Chiến thắng" của đảng cộng sản chỉ là một điều hết sức bình thường của kẻ mạnh so với kẻ đang yếu thế. Không phải lúc đó VNCH đang mạnh hơn VNDCCH như đảng cộng sản vẫn tuyên truyền.

:mrgreen: Thứ nhất, trong phần đầu, dẫn chứng thứ 5 tôi đã đề cập đến báo cáo của quân đội Liên Xô năm 1977 và họ đã công nhận gửi đoàn cán bộ cố vấn đề tăng thêm sức mạnh cho quân đội VNDCCH trong năm 1974. Và cũng báo cáo đó trang 23 có viết "Trong năm 1974, chúng ta đã chi viện thêm cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 100 xe tăng T54, một trung đoàn tên lửa phòng không SA-2, 300 tên lửa vác vai SA-7., 2 trung đoàn và cơ số đạn pháo 130 mm...." Như vậy trong khi VNCH bị cắt giảm viện trợ đến mức đạn không đủ bắn thì VNDCCH lại có thêm chi viện khổng lồ về quân sự đến thế. Vậy sức mạnh đâu phải nhờ "Đảng lãnh đạo"? Sức mạnh là do ưu thế về số lượng quân cụ vượt trội.

:mrgreen: Thứ hai, trong cuốn sách của tác giả N. Kolosov người Tiệp Khắc có viết về quan hệ giữa Tiệp Khắc và Việt Nam có đoạn "Trong năm 1973 cho đến 1975, quan hệ Tiệp - Việt được củng cố thêm bằng việc chúng ta xây dựng cho Việt Nam nhiều nhà máy cơ khí, chế tạo máy và đặc biệt để đáp lại yêu cầu của chính phủ Việt Nam. Chính phủ Tiệp Khắc đã gửi tặng các bạn Việt nam 50 chiếc xe vận tải quân sự, 1000 khẩu súng AK-47 do Tiệp Khắc sản xuất...." Cuốn sách có tên "Chặng đường đã qua" được in năm 1980.

Như vậy rõ ràng trong giai đoạn sau khi ký hiệp định ngừng bắn sau mùa hè đỏ lửa 1972 thì cộng sản đã được tăng cường một cách tối đa không chỉ từ Liên Xô mà của cả khối xã hội chủ nghĩa. Vậy rõ ràng VNCH trong giai đoạn này đã phải đơn thương độc mã chống lại cả một guồng máy chiến tranh khổng lồ của cộng sản mà kẻ làm tay sai là VNDCCH.

:mrgreen: Thứ ba, trên Website dạy lịch sử của trường THPT Lý nhân- Tỉnh Hà Nam của chính quyền cộng sản Việt Nam có bài viết về quan hệ Việt Nam - Liên Xô cũng đã khẳng định:

"Một trong những ủng hộ kịp thời và giá trị của Liên Xô đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam trong những năm 1965-1975 là viện trợ quân sự. Tên lửa “đất đối không” của Liên Xô đã được sử dụng lần đầu tiên tại Việt Nam vào ngày 24-7- 1965 và đã bắn rơi máy bay Mỹ.

Trong giai đoạn 1965-1968, số hàng viện trợ quân sự của Liên Xô cũng tăng vọt: 226.969 tấn 6. Mùa khô 1965-1966 và 1966-1967, khi cuộc chiến đấu của quân dân ta trên cả hai miền Nam, Bắc diễn ra quyết liệt, chúng ta rất cần vũ khí, đạn dược, Liên Xô đã đưa gấp sang Việt Nam “100 khẩu súng chống tăng, 500 súng cối các loại, 400 dàn pháo phản lực và 45 chiếc máy bay chiến đấu” 7. Như vậy, trong hai năm 1966-1967, Liên Xô là nước cung cấp chủ yếu viện trợ quân sự cho Việt Nam. Tính ra, “Liên Xô đã cung cấp 500 triệu rúp trang thiết bị cho lực lượng quân sự Bắc Việt Nam (xấp xỉ 550,5 triệu USD)”8. Trong những năm 1969-1972, mức viện trợ quân sự của Liên Xô cho ta đạt 143.793 tấn. Chỉ riêng năm 1969, giá trị hàng viện trợ quân sự lên tới 1,1 tỷ rúp. Cùng với viện trợ quân sự, Liên Xô còn tích cực đào tạo giúp Việt Nam đội ngũ cán bộ quân sự giỏi, có thể vận hành được những vũ khí hiện đại do Liên Xô cung cấp. Riêng năm 1966, có 2.600 sĩ quan Việt Nam được đào tạo tại Liên Xô. Đồng thời, nhiều chuyên gia quân sự của Liên Xô cũng đã sang chiến trường Việt Nam trực tiếp giúp bộ đội Việt Nam về mặt kỹ thuật. Từ năm 1969-1971, Liên Xô đã ký với Việt Nam 7 hiệp nghị viện trợ và tăng cường hợp tác kinh tế, quốc phòng.

Từ năm 1973-1975, Liên Xô chuyển sang Việt Nam 65.601 tấn 9 hàng hậu cần và trang bị vũ khí, kỹ thuật. Đây là một trong những điều kiện đảm bảo cho quân dân ta đẩy mạnh các hoạt động quân sự và giành thắng lợi quyết định trên chiến trường, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris (1-1973) và đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ đi đến kết thúc. Liên Xô cũng không ngừng viện trợ kinh tế cho Việt Nam. Kể từ năm 1965, Liên Xô đã ký với Việt Nam nhiều hiệp định viện trợ và hợp tác. Riêng năm 1965-1966, Liên Xô đã chuyển sang Việt Nam khối lượng hàng hóa trị giá khoảng 38,5 triệu rúp 10. Trong năm 1968, Liên Xô đã viện trợ quân sự và kinh tế cho Việt Nam ước tính khoảng 543,3 triệu rúp (tương đương với 608,1 triệu USD)11. Như vậy, viện trợ của Liên Xô cho Việt Nam trong năm 1968 đạt mức cao nhất, chiếm khoảng 50% viện trợ của các nước XHCN. Từ năm 1969-1972, Liên Xô và Việt Nam liên tiếp ký kết các hiệp định về việc Liên Xô viện trợ không hoàn lại, cho vay dài hạn, về trao đổi hàng hóa… phục vụ cho nhu cầu củng cố quốc phòng và phát triển kinh tế của Việt Nam. Trên tinh thần các hiệp định đã ký kết, Liên Xô cho Việt Nam vay khoản tiền ưu đãi là 152 triệu rúp không phải trả lãi. Năm 1973, Liên Xô đã xóa cho Việt Nam các khoản nợ cũ từ năm 1973 trở về trước (khoảng 1,3 tỷ rúp). Trong những năm 1974-1975, Liên Xô đã cố gắng giải quyết những nhu cầu thiết yếu của Việt Nam về lương thực, thực phẩm, xăng dầu, sắt thép…, góp phần tích cực phát triền kinh tế Việt Nam" 

Qua đoạn trích chúng ta thấy gì? Đó là một khối lượng khổng lồ viện trợ của Liên Xô dành cho Việt Nam cộng sản. Ngoài ra quan trọng hơn chung ta thấy, sau năm 1973 trong khi VNCH bị cắt giảm viện trợ thì VNDCCH lại được tăng viện thêm đáng kể và đặc biệt còn được xóa nợ. Vậy thì sức mạnh thật sự của "đại thắng mùa xuân" năm 1975 của cộng sản phải được gọi là chiến thắng của Liên Xô thì đúng nghĩa hơn.

Bạn đọc có thể tìm hiểu bài viết qua links: 
http://thptlynhan-hanam.edu.vn/forum/viewtopic.php? f=40&t=4202

:mrgreen: Thứ tư, Trên website của báo BBC Việt Ngữ có bản thống kê viện trợ của VNDCCH nhận được theo từng giai đoạn. Bài viết trích dẫn ngay bài viết của hai tác giả cộng sản thuộc viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, hai tác giả đó là Lê Quang Lạng và Trần Tiến Hoạt. Bài viết của hai tác giả trên có đoạn: "Tham luận ghi nhận trong 21 năm chiến đấu, Việt Nam đã "nhận được sự ủng hộ chí nghĩa, chí tình của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, đặc biệt là Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN anh em."

Bài viết thống kê những con số về vũ khí, đạn dược và trang bị kỹ thuật mà khối XHCN đã viện trợ:
"Khối lượng hàng quân sự Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ từ năm 1955 đến 1975, qua từng giai đoạn:

:arrow: Giai đoạn 1955-1960: tổng số 49.585 tấn, gồm: 4.105 tấn hàng hậu cần, 45.480 tấn vũ khí, trang bị-kỹ thuật; trong đó, Liên Xô: viện trợ 29.996 tấn, Trung Quốc viện trợ 19.589 tấn.

:arrow: Giai đoạn 1961-1964: tổng số 70.295 tấn, gồm: 230 tấn hàng hậu cần, 70.065 tấn vũ khí, trang bị - kỹ thuật; trong đó, Liên Xô: 47.223 tấn: Trung Quốc 22.982 tấn, các nước xã hội chủ nghĩa khác: 442 tấn.

:arrow: Giai đoạn 1965-1968: tổng số 517.393 tấn, gồm: 105.614 tấn hàng hậu cần, 411.779 tấn vũ khí, trang bị-kỹ thuật; trong đó, Liên Xô: 226.969 tấn, Trung Quốc: 170.798 tấn, các nước xã hội chủ nghĩa khác 119.626 tấn.

:arrow: Giai đoạn 1969-1972: tổng số 1.000.796 tấn, gồm: 316.130 tấn hàng hậu cần, 684.666 tấn vũ khí, trang bị-kỹ thuật; trong đó, Liên Xô 143.793 tấn, Trung Quốc 761.001 tấn, các nước xã hội chủ nghĩa khác 96.002 tấn.

:arrow: Giai đoạn 1973-1975: Tổng số 724.512 tấn, gồm: 75.267 tấn hàng hậu cần, 49.246 tấn vũ khí, trang bị - kỹ thuật; trong đó, Liên Xô: 65.601 tấn, Trung Quốc: 620.354 tấn, các nước xã hội chủ nghĩa khác: 38.557 tấn.

Tính tổng cộng qua 20 năm, theo thống kê chính thức của Việt Nam, số viện trợ mà Việt Nam nhận được là 2.362.581 tấn hàng hóa; khối lượng hàng hóa quân sự trên quy đổi thành tiền, tương đương 7 tỉ rúp." 

Như vậy ta có thể thấy liên tục qua nhiều năm viện trợ quân sự của VNDCCH đến từ các nước cộng sản gần như không suy suyển mà thậm chí còn tăng lên. Vậy thì sự thật về sức mạnh quân sự đã thực sự nghiêng về phía cộng sản qua những con số biết nói đó.

Bạn đọc có thể tìm hiểu qua links sau: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/regiona ... raid.shtml

:mrgreen: Thứ năm, trong cuốn sách "Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước -Thắng lợi và bài học" (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996) có viết: "Thắng lợi của chính sách ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh là thắng lợi của đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; của chính sách ngoại giao trên tinh thần quốc tế vô sản trong sáng, mềm dẻo, có tình, có lý. Chính vì vậy, ở vào thời điểm hai nước Liên Xô và Trung Quốc xảy ra những bất đồng quan điểm, vào lúc cuộc chiến tranh ở Việt Nam được Mỹ đẩy lên tới mức cao nhất, thì sự ủng hộ, giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc cho cách mạng nước ta vẫn được bảo đảm."

Như vậy thì rõ ràng cộng sản Việt Nam đã công nhận họ luôn có sự ủng hộ, chi viện từ phía Liên Xô, Trung cộng dù trong bất cứ giai đoạn nào của cuộc chiến Việt Nam. Rõ ràng cho thấy ưu thế của VNDCCH hơn hẵn về chi viện so với VNCH.

Kết luận: 
Qua 5 dẫn chứng cho thấy thực sự VNCH trong khi bị Mỹ bỏ rơi, cắt đứt viện trợ thì VNDCCH lại hoàn toàn ngược lại. Họ được tiền hô, hậu ủng từ cả khối cộng sản nhằm nhuộm đỏ Việt Nam với mức độ càng ngày càng khủng khiếp cho đến ngày 30/4/1975, ngày cả nước chính thức rơi vào vòng nô lệ chứ không còn chỉ là một miền Bắc nghèo khó nữa.

3. Sức mạnh quân sự vượt trội: 
Trong quân sự, việc vượt trội về số lượng và chất lượng vũ khí đóng góp đến 80% chiến thắng nhất là trong chiến tranh hiện đại. Điều này được thể hiện rõ qua chiến tranh Việt Nam ở giai đoạn sau năm 1973. 

Có thể nói sau năm 1973 thì hiệp định Paris đã làm VNCH chịu thiệt thòi về chiến thuật khi họ phải chấp nhận để quân đội cộng sản được phép đóng quân trên đất của miền Nam. "Quân đội Mỹ và các đồng minh nước ngoài phải rút khỏi Việt Nam, Quân đội Nhân dân Việt Nam được ở lại miền Nam Việt Nam, chính quyền của Tổng thống Thiệu được quyền tồn tại trong một giải pháp hòa bình, trao trả tù binh không điều kiện trong vòng 60 ngày. " (Trích theo khung sơ bộ của hiệp đinh - theo wiki:
http://vi.m.wikipedia.org/wiki/Hiệp_định_Paris_1973

Tuy nhiên ngoài ra, trong khuôn khổ bài này tôi xin chứng minh một sự thật là ngoài việc bị cắt viện trợ, bị thiệt thòi về đất đai, chiến thuật sang năm 1973 thì quân lực VNCH thua bởi vì họ nắm thế yếu về cả số lượng người và cả tính năng vũ khí. Như vậy cái gọi là "chiến thắng thần thánh" chỉ là giả tạo và thực chất VNCH đã thua phần lớn do bản thân họ không được trang bại tốt hơn cộng sản. 

Trong phần 3 của loạt bài "Những sự thật không thể chối bỏ", tôi đã chứng minh cho bạn đọc thấy cho đến trước 1968 thì quân lực VNCH không được trang bị súng M16 (súng trường tự động) mà chỉ được trang bị súng Carbine là súng trường bán tự động. Trong khi đó quân đội VNDCCH và cả lực lượng du kích kích miền nam của MTGPMNVN cũng được trang bị AK- 47 là súng trường tấn công tự động. Như vậy so về trang bị trước năm 1968 thì cộng sản cũng không phải là tầm thường như họ nói để nâng cao "tài năng" của quân đội VNDCCH.

Trong cuộc chiến Việt Nam khi quân lực VNCH được sự tiếp vận đầy đủ họ vẫn chiến đấu tốt và không cho phép quân đội VNDCCH tiến chiếm miền Nam. Điển hình là cuộc chiến 1968 và 1972. Như vậy họ đâu có "hèn" như cách tuyên truyền của đảng cộng sản? Hãy nhìn xem quân lực VNCH có gì trong tay so với quân đội VNDCCH.

Nói đến chiến tranh Việt Nam chúng ta phải nhìn nhận thời điểm đó chưa có vũ khí Lazer, có tên lửa Tomahaws hay các loại vũ khí điện tử như hiện nay thì việc chiếm ưu thế về lục quân có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Nói thế để chung ta thấy sự thật quân lực VNCH thua thiệt thế nào so với quân đội VNDCCH. Hãy làm vài so sánh sau đây.

Thứ nhất, về xe tăng - thiết giáp là vũ khí khá quan trọng của lục quân trong chiến tranh. Quân lực VNCH được trang bị xe tăng M41, M48, và xe thiết giáp M113, V100. Xe thiết giáp M113 và V100 là xe thiết giáp có vỏ hợp kim nhôm hoặc thép mỏng dễ bị bắn cháy bằng B40, B41 của quân đội VNDCCH. Thực chất đó là xe chiến đấu hạng nhẹ và không thể so sánh với lớp thép dầy của xe chiến đấu bộ binh hạng trung của BMP 1 và BMP2 có trong quân đội cộng sản. Đặc biệt khi đối đầu thì M113 hay V100 không có hệ thống tên lửa chống tăng như BMP do LX sản xuất nên không thể là đối thủ của BMP.


M41
Khi nói đến xe tăng chiến đấu chủ lực thì quân lực VNCH chỉ được trang bị xe tăng hạng trung M48 và hạng nhẹ M41. So với T54-55 của quân đội VNDCCH thì xe tăng hạng nhẹ M41 không thể sánh nổi. Duy nhất chỉ có M48 có thể coi làm tạm sánh ngang với các thông số của T54-T55 như "nòng pháo của T54 là 100 còn M48 là 90". Nhưng thực chất thì quân lực VNCH lại không có nhiều M48 để đương đầu với T54-55. Theo thống kê cho đến năm 1975 thì quân lực VNCH chỉ có 162 M48A3 còn lại 221 M41. Trong khi quân đội VNDCCH khi tấn công miền Nam năm 1975 dùng 365 xe tăng T54 (Trích" Tài liệu quân sử Việt Nam - Nhà Xuất bản QĐND Việt Nam tập 2, trang 92). Như vậy về số lượng gần tương đương nhau nhưng chất lượng theo thông số kỹ thuật của xe tăng VNCH không được bằng VNDCCH.


T-54
Bên cạnh đó, quân đội VNCH không được trang bị xe tăng lội nước chuyên nghiệp như T-59, K63, PT76 của quân đội VNDCCH được Liên Xô và Trung cộng viện trợ. Và một điều rất quan trọng đó là xe tăng của quân lực VNCH phải chống chọi với không chỉ xe tăng mà con là tên lửa chống tăng AT3, Pháo, B41, B40, DKZ... của quân đội VNDCCH. Trong khi đó quân lực VNCH chi được trang bị duy nhất M72 để chống tăng.

Thứ hai, Nói đến chiến trường bộ binh vào giai đoạn chiến tranh Việt Nam thì pháo binh là một yếu tố quan trọng. Trên thực tế quân đội VNCH chỉ được trang bị pháo 105mm và 155 mm có tầm xa tác xạ không quá 15 km. Họ có được trang bị pháo 175mm nhưng chỉ với số lượng không đáng kể. Với số lượng chỉ có khoảng 1500 khẩu pháo có tầm bắn ngắn ngủi đó so với gần 2500 khẩu pháo 130 mm có tầm bắn 30 km thì thật là quá sức chênh lệch. Thật ra tầm bắn của 105mm, 155mm bên phía quân đôi VNCH chỉ ngang bằng so với tầm bắn của khoảng 1000 khẩu 122mm của quân đội VNDCCH. Ngoài ra quân đội VNDCCH còn được trang bị rất nhiều loại pháo và súng cối từ 80mmm, 85mm...

Thứ ba, Quân lực VNCH có ưu thế về không quân với rất nhiều loại máy bay như UH1, A37, L19, C130, C119, A-H1, F5... nhưng phía VNDCCH bù lại có sức mạnh về phòng không cực mạnh do Liên Xô chi viện như pháo phòng không 122 mm, pháo 12, 7mmm, tên lửa SA-1, SA-2, tên lửa phòng không vác vai SA-7. Như vậy rõ ràng ưu thế không quân của VNCH đã bị giảm xuống đáng kể trước đối phương có hệ thống phòng không dày đặc và hiện đại ở thời điểm đó mà ngay cả không quân Mỹ cũng bị tổn thất nghiêm trọng. Như vậy một lần nữa ta thấy sự thật quân lực VNCH không được trang bị hiện đại như quân đội VNDCCH.

Trong một chiến tranh như chiến tranh Việt Nam, ở một thời điểm quyết định như năm 1975 mà không được tiếp liệu đầy đủ, vũ khí thua thiệt cả về Xe tăng, Pháo binh và ngang ngửa về Không quân đối đầu với Phòng không thì liệu có chiến thắng được không? Câu trả lời là gần như không thể trong khi cả số lượng con người cũng thua thiệt. 

Năm 1975, theo số liệu từ hồi ký "Đại thắng mùa xuân" của Đại tướng QDNDVN Văn Tiến Dũng, toàn bộ Quân lực VNCH gồm có 1.351.000 quân, trong đó có 495.000 quân chủ lực, 475.000 quân địa phương, 381.000 quân "phòng vệ dân sự" có vũ trang, gồm 13 sư đoàn chủ lực, 18 liên đoàn biệt động quân.

Theo Walter J. Boyne, toàn bộ Quân lực Việt Nam Cộng hòa gồm có 750.000 người, trong đó 229.000 là lực lượng chiến đấu nòng cốt để chống lại gần 500.000 quân Giải phóng ở miền Nam bao gồm cả các lực lượng chính quy và du kích, trong đó có hơn 200.000 bộ đội chính quy mà hơn 80.000 quân đã ở lại miền Nam sau Hiệp định Paris.

Như vậy chúng ta có thể thấy điều gì? Đó là thực tế số quân nhân chiến đấu chủ lực của quân lực VNCH cũng không thể bằng số quân của quân đội VNDCCH tiến đánh miền Nam được tiếp vận đầy đủ và vũ khí khá hiện đại tại thời điểm đó.

Kết luận: Đảng cộng sản thường tuyên truyền là họ chiến thằng VNCH bằng "Chân sắt, vai đồng" hay nói cách khác là huyền thoại về những con người cộng sản nhưng thực chất không phải vậy. Chiến thằng của cộng sản Việt Nam trước VNDCCH trong quân sự là do họ có quân số và ưu thế và tính năng vũ khí hơn hẳn VNCH.

Kết luận chung:

Việt Nam Cộng Hòa là một chế độ dân chủ non trẻ ở Việt Nam. Một chế độ dân chủ tự do non trẻ nhưng đã được những thành tựu đáng khâm phục dù còn nhiều sai sót. Tôi đã có dịp so sánh ở bài 3 của "Những sự thật không thể chối bỏ" nhưng tôi sẽ còn chứng minh sâu thêm về thành tựu của VNCH đạt được ở một bài sau này nữa. 

Quân lực VNCH tuy thua trận nhưng không phải thua theo cách mô tả của cộng sản đó là hèn kém và nhu nhược. Họ có những anh hùng tuẫn tiết như tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng... Và quân đội VNDCCH không hề chiến thắng bằng "tinh thần" hay "đại thắng thần kỳ" như họ tuyên truyền. Người thua vì họ ít quân, vũ khí kém hiện đại và bị đồng minh bỏ rơi về cả kinh tế, chính trị lẫn quân sự. Kẻ thắng cũng thực chất được trang bị qua hiện đại, nhiều về số lượng mà thôi. Một người yếu thế bị ép phải thua và một kẻ được trang bị vũ khí với chủ trương đi cướp giật thì ắt hẳn phần thua là ai thì bạn đọc cũng tự hiểu.

Tôi viết bài 1 này không có ý bênh vực cho sự thất bại của quân lực VNCH. Thất bại là thất bại, và người thất bại cũng có lỗi trong thất bại của mình. Tuy nhiên, lịch sử phải công tâm và rõ ràng. Tôi chỉ muốn thông qua bài viết này cho các bạn đọc trẻ tuổi thấy hai điều: VNCH không phải là những người lính nhu nhược và kém tài, họ gần như bắt buộc phải thua trong cuộc chiến bảo vệ dân chủ không cân sức. Và không có sự thần kỳ hay tài năng của đảng cộng sản hay anh hùng của Quân đội Nhân dân Việt Nam như đảng cộng sản vẫn tuyên truyền về Lê Văn Tám hay Nguyễn Văn Bé. Một quân đội anh hùng không thể khom lưng đứng nhìn Trung cộng bắt giữ, đánh dập đồng bào ngư dân trên chính quê hương mình như hiện nay. Họ chiến thắng không phải vì họ tài giỏi mà thực chất họ được đặt vào cái thế "Kiểu gì cũng thắng".

ĐỌC TIẾP:
:mrgreen: TIN MỚI ĐĂNG
:!: HỒ CHÍ MINH (hay HỒ TẬP CHƯƠNG, tên GIÁN ĐIỆP của HÁN CỘNG ???)

:arrow: Thư Đặng Chí Hùng gửi bạn đọc thôn Danlambao
:arrow: Những sự thật cần phải biết (2) - Việt Nam Cộng Hòa - Nạn nhân của chính sách “Ngậm máu phun người”
:arrow: Những sự thật cần phải biết (Phần 5) - Mất!
:arrow: Những sự thật cần phải biết (phần 6) - Lê Duẩn: Kẻ đồng mưu với Hồ Chí Minh tàn sát nhân dân Mậu Thân 1968

:arrow: Những sự thật cần phải biết (phần 7): Lê Duẩn và sự tàn ác với quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa
:arrow: Những sự thật cần phải biết (Phần 8) - Lịch sử lá cờ của dân tộc
:arrow: Những sự thật cần phải biết (Phần 9) - Tinh thần dân tộc tiếp nối qua lá cờ
:arrow: Những sự thật cần phải biết (phần 10) - Cộng sản Việt Nam: Trẻ em là một con bài trong chiến tranh
:arrow: Những sự thật cần phải biết (phần 11)
:arrow: Những sự thật cần phải biết (phần 12) - Tại sao không là lễ phục Dân Tộc?
:arrow: Những sự thật cần phải biết (phần 13): Những kẻ cướp ngày
:arrow: Những sự thật cần phải biết (phần 14) - Trường Chính - Kẻ vong bản
:arrow: Những Sự Thật Cần Phải Biết:- Việt Nam Cộng Hòa - Nạn Nhân Của Chính Sách “NGẬM MÁU PHUN NGƯỜI” 15
:arrow: Những sự thật cần phải biết (phần 16) - Võ Văn Kiệt: Kẻ ăn vụng biết chùi mép
:arrow: Những sự thật cần phải biết (phần 17) - Ngu dân và mị dân để giữ đảng
:arrow: Những sự thật cần phải biết (phần 18) - Tội ác của Phạm Văn Đồng
:arrow: Những sự thật cần phải biết (phần 19) - Sự thật về Võ Nguyên Giáp
:arrow: Những sự thật cần phải biết (phần 20) - Nông Đức Mạnh - Tội ác của một đứa con rơi

:mrgreen: Những sự thật cần phải biết (phần 21) - Song tướng “cướp” Trần Quốc Hoàn và Mai Chí Thọ
:mrgreen: Những sự thật cần phải biết (Phần 22) - Tội đồ Lê Đức Thọ
:mrgreen: Những sự thật cần phải biết - (Phần 23) - Phan Văn Khải - Từ bàn tay nhuốm máu đến bán nước
:mrgreen: Những sự thật cần phải biết (phần 24) - Tội bán nước và tham nhũng có tên Lê Khả Phiêu
:mrgreen: Những sự thật cần phải biết - (Phần 25) - Lê Đức Anh - Kẻ bán nước
:mrgreen: Những sự thật cần phải biết (Phần 26) - Đỗ Mười cộng sản
:mrgreen: Những sự thật cần phải biết (Phần 27): Nguyễn Văn Linh – Một trong những ông trùm bán nước
:mrgreen: Những sự thật cần phải biết (phần 28): Nguyễn Minh Triết: Anh Hề bán nước
:mrgreen: Những sự thật cần phải biết (phần 29) - Trần Đại Quang - Khai man để đàn áp
:mrgreen: Những sự thật cần phải biết - (Phần 30) - Bằng chứng bán nước toàn diện của cộng sản Việt Nam

:mrgreen: An Trinh 8: 28 PM1 Reply 
Ai là kẻ Hiếu Chiến BÁN NƯỚC ??? Ai VỊ QUỐC VONG THÂN ???
Mỗi khi mùa Xuân về, Tết đến của Dân tộc VIỆT, không bao giờ quên thảm cảnh và tội ác của đảng csBV và hồ chí minh Tết Mậu Thân 1968.
Thế giới phải kinh hoàng, khi biết đảng csVN và hồ chí minh đánh chiếm Miền Nam cho đến người Việt cuối cùng là đánh và giết dân Việt cho Nga ,Tầu, cs quốc tế (trong khi dân quân Miền Nam chỉ trong tư thế “tự vệ” xuyên suốt thời kỳ chiến tranh Nam Bắc, dân quân Miền Nam chưa có một lần nào tấn công Miền Bắc để giết đồng bào ruột thịt của mình)
Hồ chí minh là tên “hiếu chiến” đã ra lệnh (trong khi có lịnh đình chiến (hưu chiến) của quốc tế) tấn công giết một cách rất dã man (đập đầu, chôn sống hàng chục ngàn người dân Huế, đa số phụ nữ và trẻ con vô tội trong ngày Tết Mậu Thân 1968. Trong khi toàn dân Miền Nam đang hân hoan vui chơi đón Tết là ngày thiêng liêng nhất của Dân tộc.
Thì sau đó 1 năm hắn phải đền tội chết một cách thê thảm không toàn thây (1969, “quả báo nhản tiền”) bị đồng đảng đồng chí thân cận của hắn banh da xẻ thịt, bị móc cả ngũ tạng lục phủ để dồn trấu (ướp xác), móc óc hắn dồn cái chất thải gì? (nên những tên lãnh đạo hậu duệ của đảng cs hiện nay, ảnh hưởng đầu óc dồn cái chất thải gì? của hắn, đã ngu đần dâng biển, đảo, đất nước cho Tầu cọng có chứng từ (Thành Đô 1990) không chối cải) và hắn bị để nằm phơi thây hàng ngày cho người đời nguyền rũa ở Ba Đình (mặc dù hắn đã trối trước khi chết “hảy chôn hắn đi”)
Sự thật vẫn là sự thật , Ai là kẻ hiếu chiến? Ai là kẻ diệt chủng? Ai là kẻ cổng rắn cắn gà nhà ? Ai là kẻ bán nước? Ai bảo vệ hòa bình? Ai đã hy sinh để giử gìn Đất Nước Dân Tộc? Ai đã phải tử thủ “tự vệ” với các loại vũ khí hiện đại (súng đạn) của Nga, Tầu và Ai? đã đem vào đây giết người Việt Nam từ 1945- 1975…???
(Dân quân Miền Nam chưa có một lần nào vượt sông Bến Hải để tấn công Miền Bắc để giết đồng bào ruột thịt của mình)
Rồi sắp tới đây, cả tập đoàn lãnh đạo Ba Đình (hậu duệ của hắn) kể cả những kẻ theo đóm ăn tàn sau ngày 30/4/1975 cũng sẽ đền tội như hắn không sai, khi người dân Việt Tộc đều hiểu và biết ra sự thật này.

:arrow: Những sự thật cần phải biết (phần 7): Lê Duẩn và sự tàn ác với quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa
:arrow: Những Sự Thật Cần Phải Biết:- Việt Nam Cộng Hòa - Nạn Nhân Của Chính Sách “NGẬM MÁU PHUN NGƯỜI” 15


Những sự thật cần phải biết:
Phần 1: Những sự thật về Việt Nam Cộng Hòa
"THỐNG NHẤT" - Xin đừng xảo ngôn!

by Đặng Chí Hùng


http://4.bp.blogspot.com/-M8ysBTro0WI/U ... lambao.jpg

Đằng nào thì cũng đã "thống nhất" bằng đổ máu rồi, đằng nào thì nhân dân và các vị "lão thành cách mạng, nhân sỹ XHCN" cũng bị đảng "XẢO NGÔN" lừa dối rồi. Bây giờ không phải lúc kêu than đảng sửa sai, van xin đảng thay đổi vì đảng cộng sản không thể thay đổi. Và cũng vì chính danh dự của mình đã bị đảng, bị ông Hồ lợi dụng, lừa đảo bao năm qua, tôi xin kêu gọi các vị hãy quay về với nhân dân để tranh đấu cho tự do, dân chủ thực sự tại Việt Nam. Chỉ có thế thì mới đúng với tinh thần dân tộc Việt Nam trường tồn. Đừng để đảng lừa nữa và cũng đừng để thế hệ con cháu như chúng tôi phải xấu hổ về những nhận thức ngây thơ, tự hào quá khứ "cách mạng" của các vị. Hãy để tinh thần dân tộc lên tiếng trong con tim các vị và hãy để cho chúng tôi thế hệ trẻ Việt Nam tôn trọng sự thật. Sự thật thì mất lòng, nhưng mất lòng mà nhận ra cái sai của lũ bán nước, để nhân dân cùng một lòng đứng lên dẹp bỏ nó thì cũng là việc nên làm...

Muốn hiểu, nhìn rõ hơn về bản chất bán nước và xảo trá của đảng CSVN ngày hôm nay, cần nhìn xuyên suốt bản chất và quá trình bán nước của đảng trong suốt mấy mươi năm qua.

Kính thưa bạn đọc thôn Danlambao,
Như tôi đã từng đề cập ở các bài trước, ngoài loạt bài "Những sự thật không thể chối bỏ" về tội ác của ông Hồ Chí Minh, thì còn tiếp theo là loạt bài "Những sự thật cần phải biết". Loạt bài này gồm 30 bài nói về Việt Nam Cộng Hòa, đảng cộng sản Việt Nam và những cá nhân lãnh tụ khác của đảng cộng sản Việt Nam cho đến thời điểm hiện tại. 

Dựa trên tinh thần những bài "Những sự thật không thể chối bỏ" và "Những sự thật cần phải biết", tôi xin trân trọng gửi đến bạn đọc bản cáo trạng tố cáo tội ác ông Hồ và đảng cộng sản Việt Nam, mong muốn bạn đọc tham gia ký tên hưởng ứng và đóng góp thêm tư liệu.

Thưa bạn đọc gần xa,
Trên thực tế đến hôm nay vẫn còn một bộ phận không nhỏ trong nhân dân và kể cả giới trí thức XHCN đang bị căn bệnh đó là căn bệnh xuất phát từ tù ngữ "thống nhất". Chính bởi cái cụm từ "thống nhất - giải phóng" mà hàng triệu con tim đất Việt đã phải ngừng đập. Và cũng chính bởi cái cụm từ đó mà cho đến nay chưa nhiều người dám đứng thẳng người để nhìn nhận lại lịch sử, nhìn nhận lại thực tế, nhìn nhận lại chính mình. Bản thân tôi cũng đã và đang ở trong cái môi trường của sự nhồi nhét và tẩy não của đảng cộng sản, tuy nhiên thật may mắn cho tôi là tôi sớm nhận ra nó chỉ bằng những quan sát, tìm hiểu và suy ngẫm, đặt câu hỏi cho những vấn đề liên quan.

Tôi viết bài này ngoài trả lại sự thật lịch sử, còn có thêm một ý nghĩa đó là một tiếng nói của một con người đồng cảnh ngộ bị nhồi nhét như rất nhiều người muốn cảnh tỉnh cho ai còn bị lầm tưởng về sự thống nhất đất nước của đảng cộng sản.

Trên thực tế, từ "giải phóng" và "thống nhất" luôn đi kèm như một thứ bình phong của đảng cộng sản biện hộ cho tội ác chất chồng của họ đối với dân tộc Việt Nam. Tôi đã đề cập đến sự xảo trá của cộng sản trong việc dùng từ "giải phóng" để lừa dối nhân dân ta qua các bài số 11,12,13 của "Những sự thật không thể chối bỏ", bài 2, 3 của "Những sự thật cần phải biết". Trong khuôn khổ bài này tôi xin phân tích thêm về một từ khác trong cụm từ làm bình phong tội ác của cộng sản - đó là "thống nhất".

Như tôi từng đề cập, không thể có chuyện "giải phóng ngược" khi một nước có nền kinh tế, văn hóa, giáo dục, dân trí, đời sống... nhân dân thua kém và trì trệ lại đi "giải phóng" cho một nước phát triển hơn mình. Và cái cớ "giải phóng" càng trở nên lố bịch hơn khi chẳng có nhân dân bị "kiềm kẹp" cũng như "xâm lược" của Mỹ. Đảng cộng sản chỉ dùng chính sách "ngậm máu phun người" để khủng bố nhân dân VNCH để đạt được mục tiêu xâm lăng VNCH - hoàn thành thâu tóm quyền lực, thâu tóm của cải, cũng như thực hiện chỉ thị của Trung cộng. Như tôi đã chứng minh tại loạt bài trước của mình, nước Việt Nam đã bị thống nhất trong yếu đuối, suy tàn là mục tiêu của Trung cộng, được thực hiện bởi ông Hồ Chí Minh. Bởi vậy hãy nhìn vào thực tại hiện nay, LẪN NHỮNG GÌ ĐÃ DIỄN RA HÀNG MẤY CHỤC NĂM QUA thì sẽ nhận thấy: CSVN đã và đang bán đứng, chuyển giao Việt Nam từng bước cho Trung cộng. 

Tại sao? Tại sao nhân dân vẫn còn chưa đấu tranh mãnh liệt trước những hành vi bán nước trắng trợn, đàn áp, bóc lột nhân dân đến tột độ của đảng CSVN? Bởi vì chính những người đã từng bước nhận ra bộ mặt thật của đảng cộng sản vẫn nhầm lẫn ở vấn đề "THỐNG NHẤT".

Thứ nhất, theo từ điển tiếng Việt online (1) có định nghĩa như sau: "thống nhất là một động từ: hợp thành một khối có chung cơ cấu, tổ chức, thống nhất là một tính từ: có sự nhất trí với nhau."

Thứ hai, theo wiki (2) thì thống nhất là "Có sự phù hợp, nhất trí với nhau, không mâu thuẫn nhau, hợp lại thành một khối."

Như vậy có thể thấy là trên thực tế, thống nhất chỉ là một từ vừa là động từ, vừa là tính từ nói lên sự: hợp thành chung một cơ cầu và có sự nhất trí với nhau.

Vậy tại sao tôi lại nói "Thống nhất - Xin đừng xảo ngôn!" bởi vì cho đến giờ phút này thì cả hai sự định nghĩa về từ "thống nhất" đều bị đảng cộng sản lợi dụng nó như một món thuốc mê bịp bợm biết bao thế hệ người Việt Nam. Tôi xin chứng minh quan điểm của mình bằng tài liệu và luận cứ trong bài này.

1. Thống nhất để làm gì?
Nói cho đúng, bất cứ ai là con dân Việt Nam đều mong muốn có một đất nước độc lập, toàn vẹn và thống nhất thực sự. Đó là điều mà cá nhân tôi cũng rất, rất mong muốn. Nhưng thống nhất cũng không phải là cái cớ để làm bừa, làm sai, làm theo kiểu trò cướp giật, khủng bố chỉ để mong có quyền lực, làm suy yếu đất nước và đẩy những người anh em Việt Nam vào cảnh huynh đệ tương tàn, đầu rơi máu chảy.

Tôi đã từng đề cập, kẻ gây chiến là VNDCCH trong cuộc chiến 20 năm tại Việt Nam. Họ tiến hành việc khủng bố núp dưới chiêu bài "nhân dân nổi dậy" mà tôi đã vạch rõ trong bài 3 "Những sự thật cần phải biết". Và đảng cộng sản lợi dụng chiêu bài "Thống nhất đất nước" để đẩy nhân dân 2 miền vào khói lửa đau thương. Tại sao lại nói "thống nhất để làm gì?" bởi vì: 

Thứ nhất, như tôi đã từng chứng minh rằng VNCH đang có sự dân chủ, phát triển hơn hẳn VNDCCH thì không cần đến giai phóng ngược (xin xem "Những sự thật không thể chối bỏ" phần 2, 3, 11, 12, 13 và "Những sự thật cần phải biết" phần 2). Vậy thì trong một chừng mực nhất định, hãy để cho sự dân chủ, tự do và phát triển được sinh sôi nảy mầm tại Việt Nam, ít ra là trên lãnh thổ Miền Nam Việt Nam. Như vậy theo dòng tiến hóa của lịch sử, của thời gian và quy luật đào thải tất yếu sự thống nhất sẽ phải đến. Tại sao phải có sự thống nhất vội vàng bằng vũ lực của cộng sản? Chỉ tại họ tham lam quyền lực cá nhân và vâng lời bán nước cho Trung cộng. 

Thứ hai, như đã biết về đúng khái niệm "thống nhất" thì đây là một khái niệm chỉ sự nhất trí với nhau. Nhưng cộng sản và dân chủ làm sao có thể thống nhất bằng vũ lực, bằng chiến tranh. Đó là một sự cưỡng bức khái niệm cũng như xảo ngôn của cộng sản.

Nói rộng hơn thì nước VNCH là một nước độc lập, có chủ quyền hợp pháp được LHQ công nhận (xin xem thêm phần 3 của "Những sự thật cần phải biết") thì tại sao cần phải "thống nhất" bởi một nước khác bằng vũ lực? Đó chính là xự xâm lăng bất hợp pháp được biện hộ bằng xảo ngữ của cộng sản: Thống nhất.

Sẽ có nhiều người cho tôi là không muốn thống nhất đất nước và chia rẽ vùng miền, nhưng tôi xin khẳng định là không phải như vậy. Đơn giản là tôi muốn thống nhất nhưng không phải bằng con đường vũ lực mà phải để cho nhân dân tự do quyết định số phận đất nước mình chứ không thể là ý thích, là mệnh lệnh ác độc của các chóp bu cộng sản. Điều này tôi xin giải thích rõ ở mục 2.

Thứ 3, như tôi đã từng đề cập, chính ông Lê Duẩn đã khẳng định cuộc chiến 20 năm với VNCH là "ta đánh cho Liên Xô, Trung Quốc" thì đâu phải là "thống nhất" nữa? mà nó đơn thuần là cuộc cưỡng chiếm một nước khác bất hợp pháp dưới chiêu bài "Thống nhất".

Chính việc "ta đánh cho Trung Quốc, Liên Xô" cho thấy sự phí nghĩa của sự "thống nhất" bằng bạo lực của cộng sản, bằng chứng là họ đẩy hàng triệu thanh niên hai miền vào cõi chết cùng với một nước Việt Nam suy tàn về nội lực cho Trung cộng dễ chiếm (xin xem thêm tại "Những sự thật không thể chối bỏ" phần 10). Đó là sự xảo ngôn của đảng cộng sản Việt Nam.

Thứ tư, nhận xét về sự việc này tác giả người Nga A. Steanovki của Viện nghiên cứu lịch sử Liên Xô cũ đã viết trong cuốn "Hồi ức Châu Á" của mình tại trang 44 như sau: "Về căn bản, cuộc nội chiến nào cũng xuất phát từ mâu thuẫn tôn giáo, chính trị hoặc lãnh thổ. Người ta có vô vàn lý do để biện minh cho mình. Đó là những sai lầm mà chính chúng ta từng ủng hộ nhiệt thành. Giá mà chúng ta biết dừng lại ở mức độ quan sát và hòa giải thì đã không có cuộc chiến Việt Nam. Ở đó, chúng ta đạt được mục đích là gây khó khăn cho người Mỹ. Nhưng cái giá phải trả là quá đắt cho hàng triệu sinh mạng vô tội".

Theo tôi, đây là một nhận xét khá khách quan của một đảng viên nhiệt thành của đảng cộng sản Liên Xô. Ông ta đã nhận xét đúng về nội chiến và đặc biệt nhận xét đúng về chiến tranh Việt Nam. Cuộc nội chiến mà đem đến chết chóc đau thương cho hàng triệu người vô tội đã bị che lấp bởi từ ngữ bóng bẩy "thống nhất" mà tác giả Steanovki viết trong cuốn sách dày 200 trang, xuất bản năm 2002 của ông là "vô vàn lý do để biện minh". Ông cũng cho rằng việc Liên Xô ủng hộ cái mỹ từ "thống nhất" của đảng cộng sản Việt Nam là sai lầm vì nó trả giá rất đắt: Mạng người.

Thứ năm, trong cuốn sách “Sự thật về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong 30 năm qua” của Nhà xuất bản Sự Thật công bố 14/10/1979, phụ trách bản thảo đưa in là Phạm Xuyên và Đình Lai có đoạn:

“Trong chiến lược toàn cầu của những người lãnh đạo Trung Quốc, nếu họ coi Liên Xô và Mỹ là những đối tượng chủ yếu cần phải chiến thắng, thì họ coi Việt Nam là một đối tượng quan trọng cần khuất phục và thôn tính để dễ bề đạt được lợi ích chiến lược của họ...”, “Đường vẽ chấm là “biên giới” của Trung Quốc theo quan điểm bành trướng, những vùng đánh số là những lãnh thổ mà nhà cầm quyền Bắc Kinh cho là đã bị nước ngoài “chiếm mất” bao gồm: một phần lớn đất vùng Viễn Đông và Trung Á của Liên Xô (số 1, 17, 18), Át Xam (số 6), Xích Kim (số 4), Butan (số 5), Miến Điện (số 7), Nêpan (số 3), Thái Lan (số 10), Việt Nam (số 11), Lào, Campuchia…” và “Chủ tịch Mao Trạch Đông còn khẳng định trong cuộc họp của Bộ Chính trị ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc, tháng 8 năm 1965:

“Chúng ta phải giành cho được Đông nam châu Á, bao gồm cả miền nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Malayxia và Singapore… Một vùng như Đông nam châu Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản… xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy… Sau khi giành được Đông nam châu Á, chúng ta có thể tăng cường được sức mạnh của chúng ta ở vùng này, lúc đó chúng ta sẽ có sức mạnh đương đầu với khối Liên Xô-Đông Âu, gió Đông sẽ thổi bạt gió Tây…”

Rõ ràng đoạn trích này của người cộng sản Việt Nam cho thấy họ phải công nhận Trung cộng muốn “khuất phục” Việt Nam mà bao đời họ đã không làm được. Trung cộng tự coi Việt Nam là một phần của họ. Cuốn sách này lại đề cập tiếp:

“Trong cuộc gặp giữa đại biểu bốn đảng cộng sản Việt Nam, Trung Quốc, Inđônêxia và Lào tại Quảng Đông tháng 9 năm 1963, thủ tướng Chu Ân Lai nói: “Nước chúng tôi thì lớn nhưng không có đường ra, cho nên rất mong Đảng Lao động Việt Nam mở cho một con đường mới xuống Đông nam châu Á.”

“Để làm suy yếu và nắm lấy Việt Nam, họ ra sức phá sự đoàn kết giữa ba nước ở bán đảo Đông Dương, chia rẽ ba nước với nhau, đặc biệt là chia rẽ Lào và Campuchia với Việt Nam. Đồng thời họ cố lôi kéo các nước khác ở Đông nam châu Á đối lập với Việt Nam, vu khống, bôi xấu, hòng cô lập Việt Nam với các nước trên thế giới.” Và: 

“Trong 30 năm qua, những người lãnh đạo Trung Quốc coi Việt Nam là một trong những nhân tố quan trọng hàng đầu đối với chiến lược của họ, luôn luôn tìm cách nắm Việt Nam. Muốn như vậy, nước Việt Nam phải là một nước không mạnh, bị chia cắt, không độc lập và lệ thuộc Trung Quốc.”

Như vậy âm mưu thôn tính Việt Nam bằng con đường cô lập, và gây chia rẽ và muốn gây nội chiến tại Việt Nam là một cứu cánh cho Trung cộng. Chính những người cộng sản Việt Nam cũng phải nói lên sự thực này. Trung cộng muốn một Việt Nam yếu đuối về cả con người và tài nguyên để họ dễ dàng nắm cổ. Trung cộng rất khôn khéo ở chỗ muốn Việt Nam chia đôi nhưng lại bán vũ khí cho Miền Bắc để gây chiến với Miền Nam. Nam Bắc đánh nhau chính là điều Trung cộng muốn. Chúng ta hoàn toàn có thể kiểm chứng thông tin về cuốn sách đã viết trên website của quân đội Việt Nam (Cộng sản) (3)

Nếu VNCH và VNDCCH tiếp tục cuộc chiến, Trung cộng có lợi thế: bán vũ khí đổi lấy biển đảo (xem "Những sự thật không thể chối bỏ" - phần 3); về chiến lược và chính trị là o bế được đảng cộng sản Việt Nam, giảm ảnh hưởng của Liên Xô và gây khó cho Mỹ.

Nếu VNDCCH thắng thì Trung cộng sẽ có thể yên tâm mà lấy Việt Nam một cách dần dần vì lúc này Việt Nam đã "thống nhất" trong suy yếu đuối và những người đứng đầu đảng cộng sản Việt Nam là của Trung cộng. Trung cộng xâm chiếm Việt Nam thật nhẹ nhàng không tốn đạn dược nữa. Bạn đọc quan sát kỹ tình hình Việt Nam và Trung cộng 80 năm qua sẽ thấy điều đó. Ngày nay điều đó càng rõ ràng hơn sau hội nghị Thành Đô và những biểu hiện như Hoàng Sa - Trường Sa của Việt Nam thành Tam Sa của Trung cộng hay Ải Nam Quan, thác Bản Giốc, bãi Tục Lãm... đã, đang và sẽ là Tây Nguyên... rồi cả Việt Nam. Nếu không sớm nhận ra âm mưu bán nước của đảng cộng sản Việt Nam, cả dân tộc sẽ rơi vào vòng nô lệ Trung cộng như Tây Tạng.

Thứ sáu, tài liệu của Liên Xô viết bởi nhóm tác giả đã từng hoạt động ở KGB, đăng trong cuốn sách có tên “Một bước đi lớn” do nhà xuất bản quân đội Liên bang Nga phát hành vào năm 1999 nói về hoạt động tình báo của Liên Xô có đoạn ở trang 126: “Khả năng rất lớn là Mỹ sẽ có vai trò quan trọng trong việc thiết lập hòa bình ở Đông Nam Á trong đó có Việt Nam. Trung quốc cũng hiểu điều này. Chính vì thế Liên Xô phải chuẩn bị cho tình huống xấu nhất là chủ nghĩa tư bản ngự trị tại nơi mà Liên Xô đang mong muốn xây dựng chủ nghĩa Xã hội…”

Rõ ràng là người Liên Xô một lần nữa khẳng định Mỹ vào Việt Nam để "thiết lập hòa bình" và Liên Xô đã thúc đẩy cho VNDCCH gây chiến với VCCH để mở mang chủ thuyết cộng sản chứ làm gì có "thống nhất" mà đảng cộng sản lừa dối nhân dân ta.

Thứ bảy, chúng ta cũng nên nhìn lại một chút xíu về sự việc công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng do ông Hồ chỉ đạo công nhận Hoàng Sa - Trường Sa là của Trung cộng (xem "Những sự thật không thể chối bỏ" - phần 2). 

Sự việc này nếu nhìn kỹ sẽ thấy điều gì? Về sự việc bán nước đổi vũ khí để gây chiến thì tôi đã chứng minh rõ ràng với bạn đọc rồi. Nhưng sự việc đó nói lên một khía cạnh khác của sự việc. Thời điểm đó thì HS-TS thuộc sự quản lý của VNCH. Cứ cho là đảng cộng sản Việt Nam muốn "thống nhất" đất nước thực sự đi thì tại sao lại không thống nhất phần đất thuộc về một nước Việt Nam thống nhất mà VNCH đang quản lý. Vậy đảng cộng sản không muốn "thống nhất" cả HS-TS hay sao? Vậy thì với lý do nào đảng cộng sản cũng cho thấy họ là những kẻ bán nước cho Trung cộng và cũng là những kẻ chỉ muốn tham lam quyền lực đỏ và tay sai cho quốc tế cộng sản chứ làm gì có "thống nhất". Chẳng có từ THỐNG NHẤT đúng nghĩa nào lại đem lãnh thổ của cái THỐNG NHẤT đó giao cho nước ngoài cả.

Kết luận: Đảng cộng sản chỉ lợi dụng từ ngữ "thống nhất" để lừa đảo nhân dân, đặc biệt là nhân dân miền Bắc để hi sinh cho lợi ích của đảng, của cá nhân lãnh tụ. Họ cũng lấy lý do "thống nhất" để gây chiến tranh phi nghĩa, bán nước cho Trung cộng. Đảng cộng sản thật sự là những kẻ xảo ngôn!

2. Thống nhất như thế nào?
Như trên tôi đã trình bày, tôi cũng như bao người Việt Nam cũng đều muốn "thống nhất" đất nước. Tôi viết bài này không có ý chia rẽ nhân dân và đất nước. Phải nói cho đúng, dù là làm gì thì các thể chế chính trị phải tôn trọng nguyện vọng của nhân dân và tôn trọng cuộc sống của nhân dân. Không thể dùng biện pháp bạo lực và khủng bố để thống nhất trong cưỡng bách được. Đảng cộng sản đã không làm điều này vì họ biết rằng nếu để nhân dân biết sự thật thì họ sẽ không ủng hộ cộng sản. Điều này kết hợp với bản chất gian manh của cộng sản là làm tay sai cho Trung cộng, cho quốc tế cộng sản đã không cho phép cộng sản thực thi điều này. Cộng sản đã tiến hành bạo lực để cướp nước khác, ép buộc nhân dân vào cái "thống nhất" theo thòng lọng của họ. Nếu mong muốn thật sự thống nhất và thương yêu dòng máu Việt Nam tại sao đảng cộng sản không làm theo những phương pháp sau đây?:

Thứ nhất, cứ thực hiện đúng hiệp định Geneve hoặc sau này là Paris 1973 để không gây chiến tranh với VNCH. Tại sao không chăm lo cho đời sống nhân dân miền Bắc như chính quyền VNCH đã làm đối với nhân dân Miền Nam. Nếu thực sự đảng cộng sản muốn thống nhất thì họ cứ lo cho nhân dân đi rồi thì tự khắc nhân dân sẽ tin họ trong một cuộc tổng tuyển cử dân chủ 2 miền như cách Đông và Tây Đức đã làm. Tại sao? Tại sao? Đảng cộng sản thực chất không lo cho dân, họ chỉ lo cho bản thân họ và đẩy nhân dân hai miền đến những đau thương vô hạn. Nói cho đầy đủ thì đảng cộng sản chỉ muốn cướp bóc thành quả của VNCH cũng như để thỏa mãn mục tiêu bành trướng và bản năng khát máu của chủ nghĩa cộng sản mà thôi.

Thứ hai, nếu đảng cộng sản muốn thật sự thống nhất tại sao không để cho nhân dân tự quyết định, đặc biệt là nhân dân Miền Nam. Như trong bài "Những sự thật cần phải biết" - phần 3 tôi đã chứng minh đảng cộng sản Việt Nam đã dùng chính sách khủng bố nhân dân để tiến hành xâm chiếm bằng bạo lực với nước khác. Nếu thật sự muốn nhân dân hạnh phúc và đất nước "thống nhất" thì đảng cộng sản không phải thi hành chính sách kích động khủng bố này.

Thứ ba, nếu thật tâm lo cho dân tộc, đặt quyền lợi của đất nước, dân tộc lên trên hết thì tại sao họ không học theo VNCH để yên dân, phát triển đất nước thì lúc đó nhân dân Miền Nam sẽ không cần kích động mà vẫn có thể theo cộng sản. Phải chăng cộng sản chỉ là những kẻ vô học, khát máu và hiếu chiến nên họ không thể làm gì khác ngoài "bạo lực cách mạng"?

Thứ tư, trong cuốn sách nghiên cứu khá sâu sắc về quốc tế cộng sản “Chủ thuyết của chúng ta” của học giả A. Schenalder - một đảng viên đảng cộng sản CHDC Đức - được ấn hành tại Đông Đức năm 1981, trên trang 93 có nói đến nhân vật Hồ Chí Minh được tạm dịch như sau: “Người cộng sản chân chính không đánh giá quá cao về tấm lòng nhiệt thành và lý tưởng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh). Nhiều vị lãnh tụ như Stalin nhận thấy ở ông ta một sự tư lợi cá nhân mà một người có tinh thần dân tộc ít có.”

Đoạn trích cho thấy ngay cả người cộng sản trong thâm tâm họ cũng nghĩ rằng ông Hồ không phải hoàn toàn hoạt động vì vấn đề dân tộc mình, ông ta nặng về “sự tư lợi” cho bản thân thì đúng hơn. Điều này cho thấy ông Hồ không hề hoạt động đơn thuần cho lý tưởng dân tộc mà chỉ vì lợi ích cá nhân. Như vậy chúng ta thấy, người đứng đầu đảng cộng sản Việt Nam không có "tinh thần dân tộc" thì "thống nhất" chỉ là cái cớ mà thôi. Thống nhất phải đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu, nhưng ông Hồ không có thì thống nhất cái gì? Chỉ là xảo ngôn. 

Thứ năm, một đoạn văn trên website của tỉnh Thừa Thiên Huế đã công nhận sự kiện Nhật trao trả độc lập cho Việt Nam là có thật. Trong bài giới thiệu về điện Kiến Trung (4) có đoạn: “Ngày 9 tháng 3, Nhật đảo chính Pháp và thỏa thuận trao trả độc lập cho Việt Nam. Hai ngày sau, 11 Tháng Ba vua Bảo Đại triệu cố vấn tối cao của Nhật là đại sứ Yokoyama Masayuki vào điện Kiến Trung để tuyên bố nước Việt Nam độc lập. Cùng đi với Yokoyama là tổng lãnh sự Konagaya Akira và lãnh sự Watanabe Taizo.” Một website của đảng cộng sản cũng phải công nhận một sự thật lịch sử hiển nhiên là Nhật đã chấp nhận trao trả độc lập cho Việt Nam thông qua chính quyền của vua Bảo Đại.

Chính quyền Liên Xô sau khi nhận được tin Nhật trao trả độc lập cho Việt Nam đã phải thốt lên qua lời của Stalin “Thật sự khó khăn cho hệ thống xã hội chủ nghĩa khi Việt Nam được người Nhật ưu ái” - được ghi trong cuốn sách tại trang 233 có tên tạm dịch “Đường dài xã hội chủ nghĩa”. Cuốn sách này là tổng kết những phát biểu về xã hội chủ nghĩa Liên Xô và thế giới của Lê Nin, Stalin, Breznep.. được viết bởi N. Badasov, một nhà nghiên cứu lịch sử tại Liên Xô và cũng là đảng viên đảng cộng sản Liên Xô. Điều này càng minh chứng thêm cho sự kiện chính quyền Nhật trao trả độc lập cho Việt Nam là có thật.

Qua hai sự kiện này chúng ta thấy điều gì? Đó là Việt Nam đã bước vào giai đoạn thống nhất đâu có cần đảng cộng sản phải cướp chính quyền của ông Trần Trọng Kim - một chính quyên của Việt Nam thống nhất mà không cần đánh nhau, đổ máu? (xin xem thêm "Những sự thật không thể chối bỏ" phần 11, 12). Tại sao không thống nhất bằng cách cứ để cho chính quyền của ông Trần Trọng Kim hoạt động và điều hành đất nước rồi thông qua tuyển cử mà thi thố "tài năng" với chính quyền đó? Bản chất lừa đảo của đảng cộng sản là đây.

Kết luận: Đảng cộng sản không đi theo con đường hòa bình để thống nhất đất nước, không chấp nhận đảng phái đối lập nắm quyền đất nước dù đảng phái đó thực chất tốt hơn đảng cộng sản, dân chủ, tự do hơn đảng cộng sản rất nhiều. Không thiếu gì cơ hội cho thống nhất đất nước trong hòa bình. Đảng cộng sản cố tình bỏ qua điều đó. Họ chỉ muốn gây chiền mà thôi. Bản chất của kẻ khát máu và hiếu chiến thì không có chỗ cho THỐNG NHẤT TRONG HÒA BÌNH.

3. Kết luận chung:
Kính thưa bạn đọc! 

Thống nhất đất nước là điều hợp lý và cũng là ước muốn có một Việt Nam thật sự vững mạnh. Nhưng không thiếu gì cơ hội mà đảng cộng sản đã cố tình bỏ qua. Họ cũng cố tình muốn chiếm thế độc quyền đến độc tài để nắm đất nước không thông qua các biện pháp ngoại giao cũng như tổng tuyển cử dân chủ. 

Vì sao vậy? vì cộng sản chỉ làm say sai cho Liên Xô, Trung cộng để âm mưu nhuộm đỏ đất nước, làm đất nước suy yếu và dễ dàng giao cho Trung cộng theo từng bước. Nếu Việt Nam chúng ta thống nhất trong hòa bình thì với bản chất láo, lừa, đảng cộng sản không bao giờ đủ uy tín, tài đức để nhân dân bầu chọn. Vì vậy ông Hồ đã thực hiện cho được âm mưu của Trung cộng để "thống nhất" trong bạo lực dẫn đến cái chết của hàng triệu thanh niên hai miền một cách vô nghĩa. Hậu quả thì đến nay nhân dân vẫn đang ngày đêm gánh chịu.

Tôi viết bài này chỉ là sự khẳng định thêm mục đích của đảng cộng sản không phải là "giải phóng" cũng như "thống nhất" đất nước gì cả. Họ chỉ dùng biện pháp xảo ngôn để biện minh cho âm mưu đen tối của mình với nhân dân Việt Nam. Đã đến lúc những người tự cho mình là "nhân sỹ trí thức, lão thành cách mạng, có công với đảng..." hãy nhìn nhận lại sự việc "thống nhất" một cách rõ nét và thẳng thắn nhất để thấy chính họ bị đảng cộng sản mà đứng đầu là ông Hồ lừa dối. Những gì họ đang ân hưởng từ ân huệ của đảng cộng sản không phải là ân huệ mà đại bộ phận nhân dân được hưởng. Những ân hưởng đó như một thứ để lấy lòng, để che mắt các vị gọi là "nhân sỹ trí thức XHCN, lão thành cách mạng" mà thôi!.

Đằng nào thì cũng đã "thống nhất" bằng đổ máu rồi, đằng nào thì nhân dân và các vị "lão thành cách mạng, nhân sỹ XHCN" cũng bị đảng "XẢO NGÔN" lừa dối rồi. Bây giờ không phải lúc kêu than đảng sửa sai, van xin đảng thay đổi vì đảng cộng sản không thể thay đổi. Và cũng vì chính danh dự của mình đã bị đảng, bị ông Hồ lợi dụng, lừa đảo bao năm qua, tôi xin kêu gọi các vị hãy quay về với nhân dân để tranh đấu cho tự do, dân chủ thực sự tại Việt Nam. Chỉ có thế thì mới đúng với tinh thần dân tộc Việt Nam trường tồn. Đừng để đảng lừa nữa và cũng đừng để thế hệ con cháu như chúng tôi phải xấu hổ về những nhận thức ngây thơ, tự hào quá khứ "cách mạng" của các vị. Hãy để tinh thần dân tộc lên tiếng trong con tim các vị và hãy để cho chúng tôi thế hệ trẻ Việt Nam tôn trọng sự thật. Sự thật thì mất lòng, nhưng mất lòng mà nhận ra cái sai của lũ bán nước, để nhân dân cùng một lòng đứng lên dẹp bỏ nó thì cũng là việc nên làm. 

Và cuối cùng xin chuyển thông điệp này đến với đảng cộng sản Việt Nam: 
Thống nhất ư? Các vị đừng xảo ngôn!




Những sự thật cần phải biết 
Phần 1: Những sự thật về Việt Nam Cộng Hòa
Nổi dậy hay khủng bố?

by Đặng Chí Hùng - 27/11/2012



Image

Chính sách khủng bố nằm trong chiến lược của đảng cộng sản Việt Nam và họ đã giấu nó dưới từ ngữ bóng bẩy là “Nhân dân nổi dậy và đồng khởi” để biện minh cho hành động dã man của mình. Ngay từ khi quân đội Mỹ chưa có mặt ở Việt Nam trước năm 65 và sau khi họ đã rút về nước thì hàng loạt các cuộc bắn giết, khủng bố bừa bãi, ám sát vẫn diễn ra. Vậy người đảng cộng sản đang “giết Mỹ” hay là giết chính đồng bào của mình? Trong bài viết này tôi xin nêu ra một sự thật: chính đảng cộng sản ấy là kẻ đã xâm phạm chủ quyền của nước khác một cách thô bỉ nhất. Sự kiện gây chiến và xâm lăng của VNDCCH đối với VNCH đã được biết đến như một góc độ lịch sử đau thương của dân tộc...

Đọc cuốn sách “Lịch sử đảng Cộng Sản Việt Nam” của nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tái bản năm 2000 có đoạn: 

“Trong giai đoạn 1957-1959, cách mạng miền Nam gặp nhiều khó khăn. Hàng loạt cơ sở của ta bị chính quyền Ngô Đình Diệm phát hiện và bắt giữ. Tháng 1/1959, diễn ra hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Lao Động Việt Nam, đã quyết định cho phép lực lượng miền Nam sử dụng bạo lực để đánh đổ chính quyền Mỹ-Diệm.

Kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang để lật đổ chính quyền Mỹ-Diệm, cao trào diễn ra ở các địa phương: Bắc Ái (02/1959), Trà Bồng (08/1959)... phong trào lan nhanh ra khắp miền Nam, đặc biệt là phong trào Đồng khởi ở tỉnh Bến Tre.

17/1/1960, phong trào nổ ra ở huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, sau đó lan ra các huyện Giồng Trôm, Thạnh Phú, Ba Tri... phong trào đã phá tan từng mảng lớn chính quyền Mỹ-Diệm.

Từ Bến Tre, phong trào lan rộng ra khắp miền Nam Việt Nam, Tây Nguyên, và các nơi khác như miền Trung. Cuối năm 1960, phong trào đã làm chủ nhiều thôn xã ở miền Nam, Tây Nguyên, và ven biển miền Trung Việt Nam.

Sự thành công của phong trào đã chiếm được nhiều vùng rộng lớn và thúc đẩy sự thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960).”

Đọc lướt qua thì hiển nhiên không thấy điều gì là bất ngờ. Nhưng thực sự thì lại khác. Đảng cộng sản Việt Nam đã vô tình để lộ ra những tình tiết mà đi sâu vào nghiên cứu chúng ta sẽ thấy hết sức mâu thuẫn với thực tiễn lịch sử cũng như những tuyên truyền mang tính mị dân của đảng cộng sản. Tại sao lại nói như vậy? Đó chính là nội dung mà tôi xin đề cập đến trong bài 3 này trong loạt bài “Những sự thật cần phải biết”. Những điều vô lý và mâu thuẫn trong đoạn trích nêu trên có liên quan mật thiết đến Việt Nam cộng hòa – Một nạn nhân của chính sách ngậm máu phun người mà tôi đã có dịp trình bày ở bài số 2 - Việt Nam Cộng Hòa - Nạn nhân của chính sách “Ngậm máu phun người”.


I. Nhân dân nổi dậy “đồng khởi” hay là hành vi can thiệp nội bộ của nước khác? 
Như chúng ta đã biết cho đến ngày nay khi có đấu tranh nhân quyền hay thậm chí là đấu tranh chống Trung cộng xâm lược hoặc chống lại hành vi cướp đoạt đất đai, tài sản của nhân dân trong nước thì đảng cộng sản Việt Nam luôn vu khống cho nhân dân yêu nước, bị oan khuất là làm theo “thế lực thù địch” và bị Mỹ, tàn dư “ngụy” can thiệp vào nội bộ của một nước có chủ quyền. Ai cũng biết điều này là hoàn toàn bịa đặt. Ngay cả bản thân tôi viết bài này với tư cách là công dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thiên đường mù mà cũng được rất nhiều chiến sỹ “còn đảng còn tiền” phong cho là thế lực thù địch hải ngoại thì đủ thấy chính sách ngậm máu phun người của đảng cộng sản nó lên đến mức thượng thừa như thế nào. 

Những luận điệu ngậm máu phun người ấy thì ai không phải là đảng viên cộng sản đều biết, có lẽ tôi không cần nhắc lại. Và trong quá khứ cũng đã được làm sáng tỏ qua bài số 2 của tôi và hàng trăm cây viết có lương tri khác. Tuy nhiên trong bài viết này tôi xin nêu ra một sự thật: chính đảng cộng sản ấy là kẻ đã xâm phạm chủ quyền của nước khác một cách thô bỉ nhất. Sự kiện gây chiến và xâm lăng của VNDCCH đối với VNCH đã được biết đến như một góc độ lịch sử đau thương của dân tộc. Và trong bài này chúng ta thấy sự xâm lăng đó đã được thể hiện ngay từ trong sự tổ chức chính trị hay nói cách khác chính đảng cộng sản là “Kẻ can thiệp vào nội bộ của nước khác”. 

Như chúng ta đã biết Việt Nam cộng hòa đã ra đời sau khi kết thúc chiến tranh thế giới lần 2. Những sự kiện liên quan xin đọc thêm ở phần 11,12,13 của loạt bài “Những sự thật không thể chối bỏ” của tôi đã đăng trên Danlambao. Và cho đến nay sự thật lịch sử đã chứng minh: Việt Nam cộng hòa đã được thành lập và đó là một quốc gia độc lập được quốc tế công nhận. 


Điều này được chứng minh qua các tài liệu sau đây: 
:arrow: Thứ nhất, theo như tuyên bố của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa về sự độc lập và dân chủ của mình thì thực tế VNCH đã được 56 quốc gia trên thế giới công nhận trong khi đó VNDCCH lúc đó chỉ được có 10 nước cộng sản công nhận. Hãy đọc đoạn sau: “Những tổ chức dân chủ và các tiến bộ mà chính phủ chúng tôi đã đạt được trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội, đã được cảm thông của cả thế giới. Đến ngày hôm nay đã có 56 quốc gia công nhận chính phủ chúng tôi, duy trì quan hệ ngoại giao với chúng tôi, hoặc đã đề nghị chúng tôi được gia nhập Liên Hiệp Quốc. Nhà cầm quyền cộng sản ở miền Bắc chỉ được sự công nhận của khoảng 10 chính phủ cộng sản. Trong những năm gần đây, ảnh hưởng của Việt Nam Tự Do đã được tăng đáng kể: Nước chúng tôi hiện nay là thành viên của 33 tổ chức quốc tế và Sài Gòn được chọn là trụ sở của nhiều hội nghị quốc tế.” - (Tuyên Bố Của VNCH Về V/Đ Thống Nhất Đất Nước, Nguyễn Hội) 

Qua đây chúng ta thấy điều gì? Đó là VNCH đã là quốc gia độc lập và có chủ quyền, được các quốc gia khác công nhận. Như vậy về danh chính ngôn thuận, VNCH không chịu áp lực chính trị hay chi phối của bất cứ quốc gia nào khác về chủ quyền và nội bộ của VNCH.

:arrow: Thứ hai, trong cuốn sách “Chỉ dẫn lịch sử” của nhà xuất bản quốc gia Liên Xô do nhóm tác giả tại viện nghiên cứu lịch sư Liên Bang Xô Viết tại trang 42 có viết “Việt Nam Cộng Hòa là một Quốc Gia Hợp Pháp được công nhận bởi nhiều quốc gia trên thế giới qua Hiệp Định Genève 1954, đã từng có quy chế là một quốc gia quan sát viên của Liên Hiệp Quốc. Từ năm 1954 cho đến năm 1975.” Như vậy ta có thể thấy được rằng ngay người đàn anh cộng sản Liên Xô của cộng sản Việt Nam cũng phải công nhận tính chính danh và hợp pháp của nước Việt Nam cộng hòa mà bất cứ nước nào cũng không có quyền xâm phạm.


:arrow: Thứ ba, trong tài liệu của Liên Hiệp Quốc lưu chiểu tháng 2/1998 có ghi tại danh sách thành viên mục 3 trang 236 về Việt Nam cộng hòa có đoạn: “84 quốc gia trên thế giới đã từng đặt nền tảng bang giao với Nước Việt Nam Cộng Hòa từ 1954 – 1975.”

Vậy thì cái quốc gia được công nhận đó có đáng bị can thiệp và bị xâm lược hay không? Nhưng sự thật lại khác. Về sự xâm lược toàn diện của một quốc gia với một quốc gia khác tôi xin dành ở bài 4 “Những sự thật cần phải biết”. Trong khuôn khổ bài này tôi xin chứng minh phần nhỏ về sự “đồng khởi” hay chính là một âm mưu can thiệp vào nội bộ chính trị của một quốc gia có chủ quyền khác mà kẻ thủ ác không phải ai khác mà chính là đảng cộng sản Việt Nam.

Qua ba tài liệu dẫn chứng của các bên cho thấy thực sự Việt Nam Cộng Hòa là một quốc gia có chủ quyền được tồn tại dưa trên sự công nhận của Liên Hiệp Quốc và hàng loạt các quốc gia khác nhau trên toàn thế giới. Vậy thì hành động “Tháng 1/1959, diễn ra hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Lao Động Việt Nam, đã quyết định cho phép lực lượng miền Nam sử dụng bạo lực để đánh đổ chính quyền Mỹ-Diệm.” của đảng cộng sản nói lên điều gì? Đó là chính đảng cộng sản Việt Nam đã can thiệp vào nội bộ của một quốc gia khác khi ngang nhiên kích động và chỉ đạo lực lượng cánh tay nối dài của họ chống phá nhà nước VNCH. Tiếp sau đó là chúng ta thấy thời điểm họ ra nghị quyết chống lại một quốc gia độc lập là từ những năm 1959 còn người Mỹ thì nhảy vào Việt Nam tận năm 1965 sau khi tổng thống Ngô Đình Diệm mất vì tinh thần quốc gia không muốn người Mỹ vào Việt Nam của ông. Điều đó cho thấy thêm một lần nữa chiêu bài “chống Mỹ cứu nước” chỉ là một chiêu bài lừa phục vụ cho mục đích xâm lược một quốc gia độc lập khác của VNDCCH. Và cũng qua đây cho thấy chữ “dùng bạo lực” ở đây chính là cho phép, khuyến khích các cuộc khủng bố đẫm máu tại VNCH của chính quyền cộng sản. Hay nói cách khác chính đảng cộng sản là tổ chức khủng bố. 

Và ngay trong bài 2 của “Những sự thật cần phải biết” tôi đã chứng minh hai điều: Mỹ không hề xâm lược Việt Nam và chính quyền VNCH không phải là “ngụy” bán nước hại dân mà chính là một chính thể biết lo cho dân nhất trong lịch sử Việt Nam cận đại. Hơn thế nữa đó là một chính quyền tạo ra sự no ấm, dân chủ, tự do cho một nửa đất nước cho đến năm 1975. Vậy thì ai cần “nổi dậy”, “nổi dậy” để được cái gì? Thực tế đã trả lời là do chính đội ngũ cộng sản nằm vùng dưới sự chỉ đạo của đảng cộng sản VNDCCH giật dây.

Vậy thực chất các cuộc “đồng khởi” như cuộc nổi dậy ở Bến Tre là gì? Đó chính là một trong những âm mưu chính trị bẩn thỉu của đảng cộng sản Việt Nam nhằm vào Việt Nam Cộng Hòa. 

Như trong bài 2 “Những sự thật cần phải biết” tôi đã chứng minh đó là thực tế nhân dân VNCH có nền kinh tế, giáo dục, y tế, đời sống... hơn hẳn so với VNDCCH. Vậy thì luận điệu “bị kìm kẹp” của đảng cộng sản khi nói về nhân dân VNCH là hoàn toàn “ngậm máu phun người”. Vậy thì tại sao nhân dân đang yên ấm lại phải đứng lên “đồng khởi”, “nổi dậy” để làm gì? Và chính đoạn văn trên của cuốn sách “Lịch sử đảng cộng sản Việt Nam” đã hé lộ cho ta thấy thực tế đảng cộng sản đã chỉ đạo, giật dây những cuộc “đồng khởi” ấy nhằm mục đích lừa dối nhân dân hai miền, âm mưu dùng khủng bố để gây xáo trộn nhằm xâm chiếm VNCH bằng vũ lực theo chỉ đạo của Trung cộng mà ông Hồ Chí Minh là một gián điệp tay sai cho Bắc Kinh (Xin xem thêm phần 3, 4, 9, 10, 11, 12, 14 của “Những sự thật không thể chối bỏ”). Và cái nghị quyết không thể che giấu của đảng Lao động (Tên gọi khác của đảng cộng sản) kia đã phơi bày ra tất cả sự thật về sự tráo trở khi tuyên bố những hành động biểu tình, đặt bom... của cộng sản tại VNCH là hành động “nổi dậy” của nhân dân. 

Về cơ bản chính đảng cộng sản Việt Nam đã vi phạm quyền bất khả xâm phạm và can thiệp của một quốc gia độc lập, có chủ quyền đó là VNCH. Điều này hiện nay đã được hé mở nhiều hơn trong nhiều tài liệu gần đây.

:mrgreen: Thứ nhất, trên trang chủ của đảng bộ tỉnh Bến Tre cũng đã công nhận sự kiện này. Đoạn văn có viết “Tháng 12-1959, Hội nghị đại biểu các tỉnh miền Trung Nam Bộ được triệu tập để truyền đạt Nghị quyết 15 của Trung ương và bàn chủ trương chuyển hướng phong trào. Đêm 2-1-1960, Hội nghị cán bộ lãnh đạo Bến Tre do Thường vụ Tỉnh ủy triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày để truyền đạt nghị quyết của Trung ương và bàn kế hoạch phát động quần chúng nổi dậy diệt ác, phá thế kiềm kẹp của địch. Nghị quyết của hội nghị là phát động một tuần lễ nổi dậy đồng loạt trong tĩnh từ 17-1-1960 đến 25-1-1960. Ngày 17-1-1960, theo kế hoạch đã định, cuộc Đồng khởi nổ ra thắng lợi đúng như dự kiến tại 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh (Mỏ Cày).”

Bạn đọc có thể xem nội dung bài viết trên trang chủ của tỉnh ủy Bến Tre theo links sau: http://www. bentre.gov.vn/index. php? option=com_content&task=view&id=301&Itemid=47

Như vậy rõ ràng cộng sản Việt Nam công nhận sự “nổi dậy” của nhân dân Việt Nam chính là một hình thức kích động bạo lực mà người khởi điểm là đảng cộng sản. Vậy thì ai là kẻ can thiệp vào nội bộ quốc gia khác? Đó chính là đảng cộng sản Việt Nam. Vậy mà họ luôn kêu gào sự xâm lăng một quốc gia khác là “chính nghĩa” còn nhân dân trong nước oan ức biểu tình ôn hòa họ lại cho là “bị thế lực nước ngoài can thiệp”. Thật là mâu thuẫn đến mức lố bịch. 

:mrgreen: Thứ hai, nhưng theo một tài liệu do đảng cộng sản ấn hành, Việt Minh đã để lại miền Nam 60,000 đảng viên (trích trong Tổng Kết Cuộc Kháng Chống Thực Dân Pháp, Thắng Lợi và Bài Học, Hà Nội, 1996): “Cán bộ và đảng viên được đặt dưới quyền lãnh đạo của đồng chí Lê Duẩn, Bí thư Xứ Ủy Nam Bộ. Vào ngày cuối cùng của thời hạn tập kết ở Cà Mau, sau khi chúng ta đánh lừa địch bằng cách giả bộ lên tàu tập kết, đồng chí Lê Duẩn đã tìm cách rời khỏi tàu vào lúc nửa đêm để ở lại.” 

Như vậy, rõ ràng miền Bắc đã chuẩn bị tấn công miền Nam ngay khi Hiệp Ước Genève chưa kịp ráo mực, chứ không phải vì miền Nam không chấp nhận tổng tuyển cử vào năm 1956 hoặc vì có sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ tại miền Nam mà đảng cộng sản luôn tìm cách tuyên truyền mị dân. 

Và kết quả là cuộc “đồng khởi” Bến Tre kia cũng chỉ là chiêu bài khủng bố chính trị cũng như đời sống nhân dân VNCH dưới chiêu bài “Nhân dân Chống Mỹ” mà thôi. Khi mà Mỹ chưa nhảy vào thì kích động “nổi dậy” làm gì? Đó chẳng phải là hành động can thiệp vào nội bộ một quốc gia độc lập là gì nữa? 

:mrgreen: Thứ ba, để kết hợp với sự kiện “Đồng Khởi” được kích động bởi trung ương đảng cộng sản Việt Nam thì đảng cộng sản cũng tiến hành công cuộc xâm chiếm chủ quyền một nước khác một cách bất hợp pháp một cách có hệ thống. Họ cho thành lập đoàn 559 khi chưa có bóng dáng quân Mỹ tại Việt Nam với khẩu hiệu “chống Mỹ cứu nước”. 

Đây là nguyên văn bài viết trên trang của ban tuyên giáo trung ương Việt Nam “Ngày 19-5-1959, “Đoàn công tác quân sự đặc biệt” - Đoàn 559 ra đời, với nhiệm vụ mở đường, đưa đón cán bộ, bộ đội, vũ khí, đạn được, lương thực… từ miền Bắc vào miền Nam và vận chuyển vật chất giúp nước bạn Lào. Được khai sinh vào ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5), đường mang tên "Đường Hồ Chí Minh".”

Bạn đọc có thể kiểm chứng ở website có địa chỉ sau: http://tuyengiao.vn/Home/Viet-Lao/Tu-li ... 46657.aspx

Thế ra đảng cộng sản đã chủ trương “đồng khởi” kết hợp với xâm chiếm VNCH - một quốc gia hợp pháp ngay từ khi quân Mỹ còn ở tận đâu đó bên nhà của họ. Trên thực tế người Mỹ trước năm 1965 chỉ vào Việt Nam dưới dạng cố vấn xây dựng quân đội cũng như hoạt động nhân đạo. (Xem “Những sự thật cần phải biết” – bài 2). 

Để làm rõ âm mưu kết hợp “đồng khởi” với xâm chiếm này thì hãy xem người Liên Xô - đàn anh của cộng sản Việt Nam nói gì. Tài liệu của Liên Xô đăng trong cuốn sách có tên “Một bước đi lớn” - bởi nhóm tác giả đã từng hoạt động trong KGB và do NXB Quân đội Liên bang Nga xuất bản năm 1999 nói về hoạt động tình báo của Liên Xô (đã giới thiệu ở bài “Những sự thật không thể chối bỏ – phần 13 -Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn!” có đoạn ở trang 130 có viết: “Chính quyên VNDCCH dưới sự lãnh đạo của chủ tịch Hồ Chí Minh có đường lối rõ rệt để có thể tiến công Miền Nam Việt Nam. Họ biết kết hợp kích động nổi dậy do các chiến sỹ nòng cốt được cử vào Miền Nam làm chỉ huy với việc cho xây dựng con đường vận tại chiến lược 559 sau này mang tên của chính chủ tịch Hồ Chí Minh…” 

Đoạn trích cho thấy Liên Xô đánh giá và nói rất đúng về cái gọi là “kích động nổi dậy” và kết hợp xây dựng con đường nhằm gây nên cuộc chiến huynh đệ tương tàn và phi nghĩa. Điều này minh chứng nhân dân “nổi dậy” chỉ là cái hình thức cho một sự xúi giục có chỉ huy của cộng sản Việt nam tại VNDCCH. Nhân dân cả hai miền đã bị cộng sản lừa!. 

:mrgreen: Thứ tư, một đồng minh khác của VNDCCH khẳng định chẳng có cuộc “nổi dậy” tự phát nào của nhân dân như cách đảng cộng sản tuyên truyền. Trong cuốn sách có tên “Đối nghịch” của tác giả J. Leroy – một nhà hoạt động xã hội người Pháp và cũng là đảng viên đảng cộng sản Pháp (giới thiệu ở bài “Những sự thật không thể chối bỏ – phần 14 – Ai làm cho Huế đau thương?”). Cuốn sách của ông đi sâu phân tích về tính chất đối lập của đảng cộng sản và các đảng phái khác và dẫn chứng về cuộc chiến Việt nam như là một sự đối nghịch đỉnh điểm về ý thức hệ. Trong trang 192 của cuốn sách in năm 2000 tại Pháp có nội dung trích như sau: “Lực lượng cách mạng do VNDCCH chỉ đạo làm rất tốt công việc đầu tàu trong việc gây nên tâm lý hoang mang cho chính quyền ông Diệm tại Miền Nam Việt Nam trong cuộc nổi dậy ở một số tỉnh Miền Trung và Bến Tre...” 

Cuốn sách này của đảng viên đảng cộng sản cũng đã công nhận sự thật về bàn tay của đảng cộng sản Việt Nam nhúng tay vào tất cả các hành động được loan tin là “nhân dân nổi dậy” trước sự “kìm kẹp” của chính quyền VNCH. 

:mrgreen: Kết luận: Ở phần này chúng ta thấy Việt Nam Cộng Hòa là một quốc gia độc lập và có chủ quyền xác lập, bang giao với nhiều nước trên thế giới. VNCH cũng được LHQ công nhận và có chính thể tồn tại độc lập. 

Hành động tự cho mình cái quyền xâm phạm nền chính trị của nước khác của VNDCCH đứng đầu là đảng cộng sản và ông Hồ Chí Minh chính là sự xâm phạm và can thiệp thô bạo vào chủ quyền chính trị cũng như công việc nội bộ của VNCH. 

Cũng chính đảng cộng sản và ông Hồ Chí Minh đã kích động các cuộc “nổi dậy” của những người nhẹ dạ nghe theo lời lừa phỉnh của đảng cộng sản đi đến bạo lực thể hiện bằng ngay những lời mà đảng cộng sản công nhận qua nghị quyết trong hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Lao Động Việt Nam. 

Điều này cho thấy chính đảng cộng sản Việt Nam là những kẻ không tôn trọng chủ quyền chính trị cũng như quân sự của nước khác. Cũng từ đó càng thấy rõ dã tâm xâm chiếm VNCH để nhuộm đỏ Việt Nam, gây nên sự suy kiệt cho nội lực dân tộc để ông Hồ Chí Minh có thể toàn tâm thực hiện giấc mộng bành trướng chủ nghĩa cộng sản và Hán hóa toàn cõi Đông Dương của Trung cộng. 

II. Khủng bố đẫm máu! 
Để cụ thể hóa công việc tiến hành “nổi dậy” của mình thì đảng cộng sản Việt Nam tiến hành nhiều phương án trong đó có biện pháp “đã quyết định cho phép lực lượng miền Nam sử dụng bạo lực”. Đó chính là một hình thức khủng bố được đảng cộng sản tô vẽ để tránh tội. Điều này sẽ được tôi chứng minh rõ ở phần này. 

1. Chính sách khủng bố: 
Việc thực hiện chính sách khủng bố được đảng cộng sản lén lút thực hiện với những lời lẽ như “nổi dậy”, “anh hùng”, “căm thù giặc”... để chối tội. Nhưng cùng với thời gian và những phân tích cụ thể thì bộ mặt thật đó đã hiện ra một cách rõ nét nhất. 

:arrow: Thứ nhất, trong cuốn sách “Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước: Thắng lợi và bài học”, Nxb. CTQG, H, 1995, có đoạn viết: “Kết hợp đấu tranh xuống đường với nổi dậy vũ trang khiến cho chính quyền Mỹ-Diệm rối loạn và thiệt hại về kinh tế cho chúng là phương pháp cách mạng bạo lực đem lại thành công...” 

Qua đoạn trích ta thấy gì? Đó là một đảng chủ trương đem hình thức khủng bố đến với nhân dân một nước khác mà họ lại đánh giá tự hào cho thấy bản chất xấu xa của đảng cộng sản. 

Ngoài ra điều này cũng minh chứng cho sự thật là các cuộc “nổi dậy” thực chất chỉ là những cuộc kích động khủng bố của đảng cộng sản. 


:arrow: Thứ hai, trên trang chính dư địa chí của tỉnh ủy Thừa Thiên Huế có links như sau:
http://www3.thuathienhue.gov.vn/Geograp ... l=3&id=279
Có đoạn viết: “Tháng 11/1957, Tỉnh ủy Thừa Thiên họp tại bản Ấp Rùng, xã Thượng Long miền Tây Thừa Thiên Huế. Hội nghị đã quyết định xây dựng miền núi Thừa Thiên Huế thành căn cứ cách mạng. Tỉnh ủy bố trí cán bộ từ đồng bằng lên, cùng với một số cán bộ đã cắm bản từ trước kiên trì bám trụ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng bào nhanh chóng giác ngộ, phong trào đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang tự vệ bằng vũ khí thô sơ đã nảy sinh trong phong trào quần chúng. 

Giữa lúc phong trào cách mạng miền núi Thừa Thiên Huế đang có bước chuyển biến quan trọng thì ánh sáng Nghị quyết 15 (1/1959) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) về đường lối cách mạng miền Nam được truyền đến Đảng bộ và nhân dân tỉnh nhà. Tỉnh ủy khẩn trương tổ chức học tập và triển khai thực hiện Nghị quyết 15 của Trung ương. Một trong những nhiệm vụ chiến lược của Nghị quyết Trung ương 15 là việc mở đường 559 - đường Hồ Chí Minh. Miền núi Thừa Thiên Huế với con đường 559 nối liền mạch máu với cả nước từng bước trở thành căn cứ địa cách mạng vững chắc làm chỗ dựa cho đồng bằng.” 

Cũng trên trang này ở bài viết khác có đoạn: “Sau năm 1963, Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế tích cực, khẩn trương chuẩn bị mọi mặt nhằm đưa phong trào lên một thời kỳ mới, thời kỳ phá kìm, giành dân, đưa phong trào đồng bằng lên thế đấu tranh chính trị, quân sự, tiến công địch bằng cả ba mũi giáp công: chính trị, quân sự, binh vận. 

Đầu năm 1964, Thường vụ Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế chủ trương: “Phát huy sức mạnh của quần chúng có sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang, lợi dụng sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn mà tổ chức lực lượng, tiến công mạnh mẽ, đều khắp, làm tan rã, tê liệt chính trị, tư tưởng và tổ chức, phá ấp chiến lược, chuẩn bị thiết thực cho việc phá thế kìm kẹp của địch”. Thực hiện chủ trương trên, nhân dân Thừa Thiên Huế bước vào phong trào đồng khởi đồng bằng năm 1964. 

Đến mồng 5 rạng ngày 6/7/1964, phong trào đồng khởi diễn ra khắp vùng đồng bằng trong tỉnh. Ở phía Bắc tỉnh, nhân dân nhiều xã nổi dậy phối hợp với bộ đội và đội công tác võ trang tiến hành tấn công địch, phá ấp chiến lược, xóa bỏ ngụy quyền, tuyên bố thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng ở cơ sở và chính quyền tự quản của nhân dân. Phong trào Đồng Khởi đã mở ra một vùng giải phóng rộng lớn gồm nhiều xã: Phong Sơn, Phong An, Phong Thái, Phong Hòa, Phong Bình, Phong Chương (Phong Điền), Phong Nhiêu, Quảng Thái (Quảng Điền) và Hương Vân, Hương Thọ, Hương Hồ, Hương Mai, Hương Thái, Hương Bình, Hương Thạnh (Hương Trà). Ở phía Nam, lực lượng vũ trang phối hợp với nhân dân tấn công và nổi dậy giải phóng các xã Phú Đa, Phú Hồ và một số thôn của Vinh Phú, Vinh Thái, Phú Xuân, Phú Lương (Phú Vang); Lộc An, Lộc Tụ (Phú Lộc); nhiều thôn xã của xã Thủy Bằng, Thủy Thanh, Thủy Phương (Hương Thủy)...”

(links: http://www3.thuathienhue.gov.vn/Geograp ... d=280) 

Qua hai đoạn trích trên đây cho thấy xuyên suốt quá trình trước năm 1965 mặc dù chưa hề có quân Mỹ tại VNCH và đặc biệt là những chính sách của nền đệ nhất cộng hòa như “Người cày có ruộng” hay “Cải cách kinh tế” đã làm cho đời sống nhân dân đi dần vào ổn định thì hành động của đảng cộng sản chỉ đạo hoàn toàn là dùng bạo lực khủng bố nhân dân, chính quyền và xâm phạm quyền tụ chủ của đất nước khác. Những kích động bạo lực đó minh chứng cho chủ trương sắt máu của đảng cộng sản. 

:arrow: Thứ ba, các bạn quay ngược lại phần 9 “Những sự thật không thể chối bỏ” khi tôi đã giới thiệu về tác giả Trung cộng - Hà Cẩn (Viện văn học Trung quốc) có một cuốn sách được in năm 1997 và tái bản năm 2000 với tiêu đề tạm dịch sang tiếng Việt: “Mao chủ tịch của tôi” bởi NXB Trung ương Trung quốc. Cuốn sách dày 438 trang có đoạn trang 198 nói về chiến Tranh Việt Nam. Đoạn đó tạm dịch như sau: “Với sự chỉ đạo và giúp đỡ của Trung Hoa mà đứng đầu là Mao chủ tịch thì nhân dân miền Bắc đủ sức chi viện và lãnh đạo các cuộc đánh bom, gài mìn, nổi dậy tại Miền Nam của ông Diệm.”

Thì ra là như vậy. Trung cộng đã chỉ đạo và tài trợ cho VNDCCH vũ khí để họ tiếp tục “lãnh đạo” nhân dân Miền Nam “khủng bố” và nổi dậy thông qua các hành động đặt bom, cài mìn mà chính Hà Cẩn nêu đích danh. 

Những hành động đó được gọi là gì? là khủng bố chứ không thể khác. Một nhà nước đi kích động việc này có sai trái không? Và làm gì có quân Mỹ thời điểm ông Diệm còn tại vị? Thế mà vẫn cứ khủng bố “chống Mỹ”. Thật là vô lý. 

:arrow: Thứ tư, tác giả J. Leroy - một nhà hoạt động xã hội người Pháp và cũng là đảng viên đảng cộng sản Pháp đã giới thiệu ở trên - Trong cuốn sách của mình mang tên “Đối nghịch” vẫn ở trang 192 còn viết: “Sự quá đà trong việc sử dụng bạo lực cách mạng tại Miền Nam Việt Nam đã khiến cho nhiều dân thường tại Miền Nam chết oan...” 

Thật ra tác giả cộng sản Pháp này nói đến “bạo lực cách mạng” như một sự biện hộ cho những hành động khủng bố của đảng cộng sản đối với nhân dân VNCH. Nhưng với một con người dù sao cũng nhìn nhận khách quan hơn ông đã nói đến “sự quá đà” và những sự việc gây tang thương cho nhân dân miền Nam một cách oan uổng. Vậy là thêm một bằng chứng cho thấy chủ trương của đảng cộng sản: khủng bố. 

:arrow: Kết luận: Như vậy chúng ta có thể thấy tất cả các tài liệu đều đi đến một điểm chung đó là đảng cộng sản chủ trương sử dụng chính sách khủng bố trên toàn cõi VNCH. Đây là một việc làm sai trái vì nó sai quy tắc ứng xử của một quốc gia với một quốc gia khác. Đồng thời cho thấy chủ nghĩa khủng bố là chủ trương của đảng CSVN. Không có một cuộc “nổi dậy” nào tự phát mà đó chỉ là chiêu bài khích động khủng bố của đảng CS mà thôi. Vậy hậu quả của nó gây ra cho VNCH thế nào? Xin xem tiếp tại phần dưới đây. 


2. Tang thương cho nhân dân VNCH: 
Những hậu quả để lại cho nhân dân VNCH dưới chính sách khủng bố của đảng cộng sản Việt Nam rất lớn lao. Trong khuôn khổ bài này tôi xin chỉ dẫn ra những ví dụ nhỏ bé trong vô vàn sự kiện để nói lên tính chất dã man của đảng cộng sản Việt Nam trong âm mưu khủng bố quốc gia khác. 

Thứ nhất, trên trang baomoi.com có dẫn trích một bái báo của báo quân đội nhân dân của đảng cộng sản Việt Nam có links: 

http://www.baomoi.com/Home/HinhSu//www. ... 719339.epi

Có đoạn viết nguyên văn như sau: “Diễn biến trận đánh như sau: Phi Long đi xe máy mô-bylet chở một trái mìn đi trước, đồng chí Rãy đạp xe giả làm người bán báo chở một trái DH10 đi sau đủ tầm nhìn thấy nhau. Gần đến cầu Hang, Phi Long đi chậm lại quan sát, chờ thời cơ vượt trạm gác. Khi người dân tập trung đi về phía giữa cầu, lợi dụng đông người che khuất, Phi Long cho xe vượt qua, đồng chí Rãy cũng đạp xe theo qua khỏi trạm gác cùng lao nhanh về hướng mục tiêu. Dừng lại một phút để quan sát, thấy 3 tên cảnh sát vẫn đứng trước cầu thang lên xuống nhà hàng, còn phía trên bờ sông 4 tên cảnh sát đứng dàn hàng ngang súng tiểu liên cầm tay, hai tên công an chìm đi lại ngay bãi trống đối diện nhà hàng. Tại các ngã tư địch tăng cường xe bọc thép và bọn lính dã chiến hình thành thế bảo vệ quanh mục tiêu. Đây là một sự bất thường xảy ra trong khu vực, một tình huống ngoài dự kiến. Nhưng Phi Long quyết tâm là phải đánh và đây cũng là thời cơ đánh khi địch tập trung cao nhất. Anh động viên đồng chí Rãy: Dù hy sinh hai anh em mình cũng phải hoàn thành nhiệm vụ trước Đảng và Quân đội trong trận đánh này. Quan sát thêm, Phi Long thấy có vài người bán hàng rong qua lại trước mục tiêu và kế đó lại có hàng bán thuốc lá. Nhìn đồng hồ đeo tay chỉ còn vài phút nữa thôi, Long liền chạy xe cập mục tiêu. 

Long tự nhủ thật bình tĩnh để địch không nghi ngờ phát hiện, anh dừng xe máy nhắm đúng hướng mìn thổi vào 2/3 thân tàu. Mồ hôi rịn đầy trên trán, song anh vẫn cố tỏ ra ung dung thản nhiên móc tiền bước đến quầy mua thuốc lá, những tên công an vẫn qua lại không biết gì. Chỉ còn 2 phút nữa thôi, trái mìn DH10 sẽ nổ. Anh nhanh chóng đi đến bên cạnh công viên, áp sát người vào một trụ cột, lợi dụng bóng tối bỏ 2 trái thủ pháo xuống sông rồi lẹ làng lách người qua công viên cách đó 5m nhảy lên chiếc xe gắn máy mà đồng chí Tám Sâm đã để sẵn. 

Đồng chí Rãy cũng đã gài xong quả mìn định hướng thứ hai. Hai người lên xe, vừa chạy ra khoảng 50m thì trái mìn thứ nhất mà Phi Long gài đã nổ. Lao xe đến bùng binh Nguyễn Huệ thì Long bị cảnh sát chặn lại khám xét, kiểm tra thấy giấy tờ hợp pháp bọn chúng để cho hai người đi. Vừa lúc đó, trái mìn thứ hai của đồng chí Rãy gài nổ tiếp. Cả Sài Gòn như bừng lên khí thế tiến công. Tiếng còi báo động của địch vang lên inh ỏi, đường phố trở nên một cảnh tượng hỗn loạn, chỉ riêng những người lính đặc công biệt động mừng vui khôn tả.

Vài phút sau, đại sứ Mỹ ở Sài Gòn cũng có mặt và chứng kiến cảnh tan nát này đã lắc đầu thất vọng và ủ rũ cúi đầu leo lên xe như không dám tin vào những gì vừa xảy ra.

Ngày 23-6-1965, Huỳnh Phi Long được cấp trên tặng thưởng huân chương Chiến công hạng nhất, các đồng chí Lê Văn Rãy, Tám Sâm, Kiều Nương và Nguyễn Thị Hoài đều được tặng huân chương Chiến công hạng 3. Riêng tập thể đội biệt động 67 được tặng thưởng huân chương Quân công hạng 3.”

Qua đoạn trích ta thấy gì? Đó là sự chuẩn bị khủng bố kỹ lưỡng và hết sức táo tợn. Còn ngay sau đó là sự kiện ông Long và đội quân khủng bố của ông được thưởng huân chương cho thấy tính chất dã man không còn tính người của những người cộng sản. Hãy xem vài bức ảnh trong cuộc khủng bố đó để thấy sự thật:

Image

Image

Image

Image
Nhà hàng Mỹ Cảnh

Image
tên Khủng bố Huỳnh Phi Long


:mrgreen: Thứ hai, Uwe Siemon-Netto, ký giả nổi tiếng người Đức sau khi đi theo một tiểu đoàn Miền Nam vào ngôi làng bị Việt cộng khủng bố năm 1965 báo cáo như sau: 

“Lung lẳng trên các cành cây và sào trong sân làng là thân xác xã trưởng, người vợ va 12 đứa con vừa trai, vừa gái kể cả cháu bé. Tất cả nam đều bị cắt cu dái nhét vào mồm, còn nữ bị cắt rời vú. Dân làng được lệnh bắt buộc tập trung chứng kiến cảnh tàn sát. Việt cộng bắt đầu giết em bé rồi với một điệu bộ thao diễn chậm rãi ra tay lần lượt giết các em lớn, tới giết người mẹ và sau cùng là giết người cha. Việt cộng đã giết cả nhà 14 người, giết một cách lạnh lùng như thể bấm cò súng đại liên bắn máy bay”.

“Việc VC tàn sát thế này là việc bình thường hàng ngày... Vì với chúng tôi nó đã trở thành bình thường nên chúng tôi không tường thuật tới, tường thuật lui mãi mãi”. 

Đây là đoạn tạm dịch của nguyên bản tiếng Anh “Dangling from the trees and poles in the village square were the village chief, his wife, and their twelve children, the males, including a baby, with their genitals cut off and stuffed into their mouths, the females with their breasts cut off". The Vietcong had ordered everyone in the village to witness the execution. They started with the baby and then slowly worked their way up to the elder children, to the wife, and finally to the chief himself... It was done very coolly, as much an act of war as firing anti-aircraft gun. " It was routine... Because it became routine to us, we did not report it over and over again”. (Trích trong cuốn “The Real War” của cựu tổng thống R. Nixon trang 39-40.)

Qua đây cho thấy bản chất dã man của đảng cộng sản mà nhân dân VNCH phải gánh chịu. Họ đâu có “nổi dậy” mà thực chất họ đang khủng bố một quốc gia khác.

:mrgreen: Thứ ba, vụ thảm sát mậu thân tại Huế năm 1968 cũng là một trong những minh chứng tang thương cho số phận của nhân dân vô tội VNCH trong chính sách tàn bạo và khủng bố của đảng cộng sản. Bạn đọc có thể đọc lại những con số khủng khiếp của sự kiện này tại phần 14 - “Những sự thật không thể chối bỏ - Ai làm cho Huế đau thương”. Tôi xin chỉ nêu lai một điều đó là qua các dẫn chứng trong phần 14 của các bên liên quan cho thấy con số từ 4000-5000 là con số người chết oan trong tết mậu thân 1968 ở Huế.

Vấn đề con số chính xác đến từng người không phải là vấn đề quá quan trọng. Ở đây là dù với con số hàng nghìn, 4000 hay 5000 nghìn cũng cho thấy tội ác mà cộng sản đã gây ra cho nhân dân Huế vô tội. Đó là tội ác giết người cần phải được lên án.

Image

:mrgreen: Thứ tư, sự kiện pháo kích tại Cai Lậy. Là chiến dịch khủng bố Việt cộng đã pháo kích hỏa tiễn (DKZ 122 mm) vào trường tiểu học tại thị trấn Cai Lậy, tỉnh Định Tường, (Tiền Giang) ngày 9 tháng 3 năm 1974. Đúng ngay vào lúc các em đang trong giờ ra chơi. Giết chết 32 em học sinh và 55 học sinh khác bị thương. Vụ thảm sát tuy nổi tiếng, gây ấn tượng mạnh trong dân chúng lúc bấy giờ nhưng không được thế giới biết đến nhiều, cũng như không được báo chí nhắc đến. 

Hiện còn 3 người tận mắt chứng kiến cuộc pháo kích của VC sáng ngày 9/3/1974 vào Trường Tiểu Học Cộng Đồng Cai Lậy thuộc tỉnh Định Tường làm chết tại chỗ 29 em học sinh. Chính ba người này đã đích thân bồng các em bị thương đầy máu me lên xe cứu thương chở về Trung Tâm Y Tế Toàn Khoa tỉnh Định Tường cấp cứu. Ba người này, 2 người hiện đang sống ở Westminster, California, Hoa Kỳ; 1 người hiện sống tại Jacksonville, Florida, Hoa Kỳ. 

Image
...Hỡi bé thơ ơi, sao tội tình gì em lại bỏ đi, em lại bỏ đi
Kìa thầy giảng bài tình thương trong lớp,
Bạn bè còn ngồi chăm chỉ lắng nghe.
Sao em vội bỏ mái trường ngày xưa thân mến, vội bỏ ra đi....
(Nhạc sĩ Anh Bằng sáng tác bài hát nhằm tố cáo Việt cộng
pháo kích dã man vào trường tiểu học ở Cai Lậy)


Sự kiện tại Định Tường đã không được báo chí nhắc đến nhiều và phía đảng cộng sản cho rằng đó chỉ là sự “bịa đặt” nhưng rất may mắn là nhân chứng còn sống và những hình ảnh như trên đã nói lên tất cả sự thật. Nhưng ngoài ra rất may một tài liệu của nhóm KGB tại Liên Xô đã xác nhận sự kiện này. Tài liệu của Liên Xô đăng trong cuốn sách có tên “Một bước đi lớn” – bởi nhóm tác giả đã từng hoạt động tại KGB và do NXB Quân đội Liên bang Nga xuất bản năm 1999 nói về hoạt động tình báo của Liên Xô (đã giới thiệu ở trên) có đoạn ở trang 200 nhắc: “Có vài sự kiện mà phía quân đội VNDCCH gây ra thiệt hại cho trẻ nhỏ mà sau này được giấu đi như một phần tất yếu của cuộc chiến như cuộc tấn công băng DKZ và 122mm vào một trường học tại Miền Nam Việt Nam năm 1974”. Cuốn sách như một lời khẳng định của người đàn anh Xô Viết cho sự kiện gây tội ác này của đảng cộng sản Việt Nam.

:mrgreen: Thứ năm, về sự thật của cuộc “nổi dậy” tại Bến Tre hãy nghe những người đứng đầu chế độ cộng sản kể thành tích. 

Trong cuốn Lê Duẩn, Thư vào Nam, Nxb Sự thật, 1985, tr. 397 có viết: “Cuối năm 1959 tại nhiều nơi ở Nam Bộ, quần chúng đã vùng lên diệt ác, phá kìm, khiến cho bộ máy tề ngụy của hàng trăm thôn, xã phải tan vỡ. Đặc biệt đêm 17-1-1960, dưới sự chỉ đạo của Đảng bộ Bến Tre, nhân dân huyện Mỏ Cày đã nổi dậy khởi nghĩa đồng loạt mở đầu cho một cao trào mới. Từ đó, làn sóng “Đồng khởi” như nước vỡ bờ lan ra toàn tỉnh Bến Tre và khắp các tỉnh Nam Bộ, Tây Nguyên và Trung Trung Bộ”(1).

“... Những cuộc đấu tranh cách mạng ấy thực chất là cao trào khởi nghĩa của quần chúng, bao gồm những cuộc khởi nghĩa từng phần, để giành thế mạnh về chính trị, xây dựng một hình thức chính quyền cách mạng ở thôn xã, hình thức bước đầu lực lượng vũ trang của nhân dân”(2).

* Đại hội Anh hùng Chiến sĩ thi đua toàn miền Nam do TƯCMN và Quân ủy miền chủ trì (1968) có đại biểu các tỉnh, thành và Bộ Tư lệnh các quân khu 5, 6, 7, 8, 9 và đặc khu Sài Gòn - Gia Định về dự đã nhất trí tuyên dương 3 tỉnh đạt những thành tích xuất sắc trong sự nghiệp chống Mỹ (giai đoạn 1954 - 1968) với các danh hiệu sau đây:

1 - Tỉnh Bến Tre: “Anh dũng Đồng khởi, thắng Mỹ diệt ngụy”.
2 - Tỉnh Long An: “Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc”.
3 - Tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng: “Trung dũng kiên cường, đi đầu diệt Mỹ”

(Bạn đọc có thể kiểm chứng tại links thành ủy Bến Tre: 
http://nguoibentre.vn/threads/khu-di-t% ... 5212/)

Và kết quả của nó ra sao? Trong bài giảng về lịch sử của đảng cộng sản có viết: “Sau một tuần: 22 xã được giải phóng, 29 xã khác tiêu diệt ác ôn, vây đồn, giải phóng nhiều ấp”. Các bạn có thể xem tại links:
http://violet.vn/th-tanphu-dongphu-binh ... id/2761132

Như vậy cho thấy những người cộng sản rất hả hê về những “thành tích” khủng bố của họ mà cụ thể là họ làm cho các xã phường tiêu điều và kiệt quệ, dân lành bị chết oan.

Image

:mrgreen: Thứ sáu, vụ ám sát ông giáo sư Nguyễn Văn Bông mà cho đến nay người cộng sản cho rằng đó là thành tích của họ. Trên tờ báo Dân Việt của đảng cộng sản Việt Nam có bài báo “Tôi ám sát người sắp làm thủ tướng Sài Gòn”


Theo wikipedia, ông Nguyễn Văn Bông (ảnh trái) sinh ngày 2/6/1929 tại Gò Công (Tiền Giang) trong một gia đình lao động. Ông nổi tiếng là một học sinh học giỏi và tự lập. Năm 12 tuổi đã tự làm những nghề như sửa xe đạp, phụ đánh máy, quét dọn trường học để kiếm tiền đi học (vì cha mẹ ly dị). Ông tự đi du học bên Pháp, tốt nghiệp với bằng tú tài, cử nhân luật từ Đại học Sorbonne (1956), tiến sĩ chính trị học (1960), thạc sĩ công pháp quốc tế (1962). Ông về nước dạy học, và sau này giữ chức viện trưởng Học viện Quốc gia Hành chánh (thời ông Thiệu). Cuối năm 1968 ông làm chính trị, thành lập Phong trào Quốc gia cấp tiến, một tổ chức đối lập với chính phủ của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Ông bị mưu sát lần đầu vào năm 1968, nhưng đến lần 2 (1971) ông bị ám sát chết lúc mới 42 tuổi. Gs Nguyễn Văn Bông qua đời để lại vợ mới 30 tuổi, hai trai và một gái. Sau 1975, vợ ông là Lê Thị Thu Vân, còn gọi là “Cô Út” (người ông gặp ở Paris) bà tái giá với một nhà ngoại giao Mĩ là Lacy Wright, và lấy tên mới là Jackie Bông Wright. Sau này bà có viết và xuất bản một cuốn sách giống như hồi kí có tựa đề là Autumn Cloud: From Vietnamese War Widow to American Activist (Mây mùa thu: từ một góa phụ chiến tranh đến một người hoạt động xã hội).


Lúc mới nghe tin ông bị ám sát, phu nhân ông là bà Thu Vân tố cáo thủ tướng Trần Thiện Khiêm là thủ phạm giết hại chồng bà. Lời tố cáo này xuất phát từ suy luận rằng Gs Nguyễn Văn Bông đã nhận lời làm thủ tướng trong chính phủ Nguyễn Văn Thiệu (và thế là ngăn chận bước đường công danh của ông Trần Thiện Khiêm - người sau này là thủ tướng). Thế nhưng bà Thu Vân đã sai. Người ám sát Gs Nguyễn Văn Bông là ông Vũ Quang Hùng, tức tác giả bài viết đã nói trên trong tờ Dân Việt. Ông Vũ Quang Hùng, theo như một nguồn tin, lúc đó là sinh viên năm thứ ba Đại học Khoa Học Sài Gòn (tức Đại học Khoa học Tự nhiên ngày nay) và là thành viên của tổ trinh sát vũ trang của Ban An Ninh T4. Còn người ngồi sau xe honda là Lê Văn Châu như trong bài báo tường thuật là trung úy quân đội VNCH nhưng đồng thời cũng là cơ sở của An Ninh T4. Nhưng chi tiết về cuộc ám sát thì chỉ mới tiết lộ gần đây, nhất là qua bài báo tuần này. Theo lời kể trên Dân Việt thì hai người trinh sát giết ông bằng cách ném cái cặp da chứa chất nổ và lựu đạn dưới gầm xe của ông đang ngừng tại đèn đỏ ngã tư cao Thắng – Phan Thanh Giản. Giáo sư Nguyễn Văn Bông chết tại chỗ cùng những người thân cận ông (3 vệ sĩ và 1 tài xế).


Vũ Quang Hùng, Lê Văn Châu 
và chiếc xe của 
ông Nguyễn Văn Bông
Và tên khủng bố Vũ Quang Hùng đã kể lại hành vi giết hại một giáo sư, một nhà giáo của mình một cách tự hào như sau “Và nếu tình huống này xảy ra, cách mạng có thể gặp khó khăn hơn bởi Nguyễn Văn Bông là một trí thức có uy tín và chính quyền ngụy chuyển từ quân sự sang dân sự mọi diễn tiến sẽ có lợi cho địch”.

Đoạn ghi lời nói trên cho thấy tình chất dã man của đảng cộng sản vì tại sao họ lại phải giết hại một giáo sư dạy học và họ lại phải lo sơ sự dân sự hóa chính quyền VNCH? Đó chính là sự thật là đảng cộng sản chẳng phải chống chính quyền quân sự của ông Thiệu như họ từng tuyên bố mà họ chống cả những người đang theo đuổi mục đích dân sự và dân chủ hóa VNCH. Vậy thì làm gì có chính danh “giải phóng” ở đây? Đó thực sự là chính sách khủng bố.

:mrgreen: Thứ bảy, Còn rất, rất nhiều trường hợp nữa mà trong khuôn khổ vài bài viết cũng không thê kể hết tội ác khủng bố của đảng cộng sản với nhân dân Miền Nam. Trong dẫn chứng thứ bảy này tôi chỉ xin gửi đến bạn đọc 1 links bài viết vê âm mưu khủng bố ám sát tổng thống một quốc gia độc lập được chính đảng cộng sản công nhận để bạn đọc nghiền ngẫm. Bài viết trên trang Dantri của đảng cộng sản Việt Nam: 

http://dantri.com.vn/phong-suky-su/chan ... 477455.htm

Và kèm theo một số hình ảnh hâu quả của đặt mìn, khủng bố cho thấy nhân dân VNCH đã chịu bao nhiêu sự đau khổ trong chính sách khủng bố của đảng cộng sản Việt Nam.

Image


Image

Image

Image

Image


III. Kết luận chung
Chính sách khủng bố nằm trong chiến lược của đảng cộng sản Việt Nam và họ đã giấu nó dưới từ ngữ bóng bẩy là “Nhân dân nổi dậy và đồng khởi” để biện minh cho hành động dã man của mình. Ngay từ khi quân đội Mỹ chưa có mặt ở Việt Nam trước năm 65 và sau khi họ đã rút về nước thì hàng loạt các cuộc bắn giết, khủng bố bừa bãi, ám sát vẫn diễn ra. Vậy người đảng cộng sản đang “giết Mỹ” hay là giết chính đồng bào của mình? Hậu quả chúng ta thấy rõ toàn thường dân, trẻ em vô tội. Thật là độc ác.

Ngoài ra cũng có thể thấy là việc một quốc gia khác kích động và gây ra khủng bố tại một quốc gia khác là hoàn toàn trái luật quốc tế và là hành vi đáng lên án và kết tội khủng bố. Bấy lâu nay chính đảng cộng sản đang tự vả vào mặt mình khi nói họ chính là những tên thù địch, kẻ khủng bố đi xâm lược và khủng bố quốc gia khác.

Một tội ác không thể bỏ qua!